Thứ Tư, 16 tháng 6, 2010

Hướng dẫn Bài tập 2

Hướng dẫn :
Câu 1 :
- Lấy thực tế mà dẫn chứng về các nên văn minh của nhân loại từ xưa cho đến nay . Tại sao có nền văn minh đó ? Các thành phố hay những nơi đô hội cũng vậy .

Câu 2 :

Tìm bản đồ Sông ngòi vùng Hà Nội và vùng Đồng bằng sông Cửu Long , phân tích nguồn nước xem tụ hay tán rồi xét lại lịch sử của từng vùng thì ắt rõ biết .

Câu 3 :
- Thủy giao là 2 hay 3 giòng nhập lại - Hình thức của TỤ. Chỗ nào nước Tụ thì nơi ấy có HUYỆT. Trước khi kết Huyệt thường nước quanh co , chảy chậm lại : Khúc tất Hữu Tình cũng vậy.

2/ Móc câu lượn Trái nghĩa là Nguồn Nước Uốn Cong như móc câu - Lượn bên TRÁI là chảy từ Phải sang - Ậm khí lớn mới CƯỜNG - Nếu móc câu mà lượn Phải dù ôm thân - Hình thức hữu tình thủy - thì khí cũng rất nhu mì - Yếu đuối !

- Nước mà vòng móc câu cũng chính là Nước Chảy ngược nguồn !

Bài tập 2

Bài tiếp :
Thời hạn 10 ngày kể từ hôm nay 27 tháng 6 .

1/ Các nền Văn minh nhân loại xưa nay đều gắn liền tên tuổi của 1 giòng sông .Các thành phố lớn như Saigon - Hà Nội - Cần Thơ .... hay như Paris - London - Washington DC ...cũng vậy .

a/ Các bạn cho biết Giòng sông làm nên nền Văn Minh hay nhờ Văn minh mà giòng sông có tên có tuổi ?
b/ Các thành phố lớn trở thành nơi đô hội nhờ giòng sông hay ngược lại ?

2/ Hễ 2 hay nhiều giòng nước nhập lại thì gọi là Tụ . Rẽ ra là Tán .
Theo kinh nghiêm từ ngàn xưa rút từ thực tế : Nơi nào nước Tụ là nơi ấy tốt lành - Nơi nào nước Tán thường nơi ấy xấu .
Vậy các bạn xem lại Hà Nội là nơi nước Tán hay Tụ ? Vùng hạ lưu Cữu Long là Tụ hay Tán ?

3/ Bạn nào giải thích được các câu :
- Long Tận Thủy giao ?
- Câu Vàng lượn trái ?
Thực tế là những nơi nào vậy ?

Năm Kỷ Sửu nói chuyện xuất hành

Năm Kỷ Sửu
Nói chuyện xuất hành .
Bài viết của Thầy Quảng Đức

Ngày Mồng Một Tết Nguyên Đán năm nay là 26 tháng 1 năm 2009, tức là ngày Tân Mùi tháng Bính Dần, năm Kỷ Sửu . Mặc dù ngày Tân Mùi, khởi đầu một năm mới có thiên can Tân hành Kim, địa chi Mùi hành Thổ. Thổ sinh Kim là ngũ hành tương sinh, tương hợp. Xưa nay gọi là Nghĩa Nhật là ngày lành, ngày lợi. Thế nhưng, kinh nghiêm người đời lại cho hay, hể năm nào ngày đầu của tháng Giêng mà gặp Tân Mùi y rằng gặp Lưu Tài Hung Nhật, năm ấy thiên hạ phải chạy vạy lo toan vì đồng tiền sẽ rất khó kiếm. Có nơi cho rằng ngày ấy Hung vì phạm Quan Mộc. Theo Trạch Cát Thần Bí, đại Hung vì gặp ngày Tâm Đồ Ngạ Quỷ tại thế tồn trai, các Thần đều xuống tham quan đia phủ. Qua mồng 2, Nhâm Thân là ngày Thập Ác Đại Bại. Ngày này chỉ tốt cho tế sự và cầu an, chứ không phải ngày cầu Lộc, cầu Tài. Ngày mồng 3 Quý Dậu là ngày Phán Quan tại thế, cũng lại là ngày đại Hung. Như vậy, ngày mồng 1 đầu năm Lưu Tài Hung Nhật, ngày mồng 2 và ngay cả mồng 3 cũng đều xấu, báo trước cho một năm rất khó mà cầu TÀI, ngẫu nhiên gặp đúng vào thời kinh tế toàn cầu đang cơ khủng hoảng trầm trọng. Thất nghiệp tràn lan, buôn báo thua lỗ, cơ xưỡng sản xuất co cụm, chờ ngày phá sản, ngay cả ngân hàng cũng phải cạn tiền vay thì người dân kiếm tiền đâu phải dễ? Khoa Tử Vi cho biết năm nay Kỷ Sửu, sao Lộc Tồn tại Ngọ đã bị Tuần Không. Các Cát thần như Long Đức, Thiên Hỷ, Thiên Trù. Âm quý nhân . . . . tại Thân bó tay vì bị Triệt Lộ. Tuế Mã, Thái Âm tại Tây Bắc Tuất Hợi thì đang trong vùng của Tử Môn. Bộ Lục Bại sẽ vẫy vùng như ngựa không cương. Các sao Sát tung hoành như mây gặp gió, người dân chắc chắn sẽ phải gặp nhiều khó khăn, trăm chiều khổ nạn ....

Thực ra tập tục chọn ngày lành, tránh ngày xấu, đâu phải đợi cho đến ngày nay mới có người cực lực bài bác, cho là mê tín, dối trá, hoang đường, hảo huyền hư ngụy? Ngay từ thời nhà Hán, tác giả tập Luận Hành là Vương Sung cũng đã lên tiếng bài xích. Ngu Tàng đời nhà Đường viết Chiết Trệ Luận cũng phê phán tệ mê tín về việc chọn ngày. Thế nhưng, nhiều người lại cho rằng cổ nhân dạy người chọn ngày lành tháng tốt để tiến hành công việc, mục đích là cầu mong tốt lành, tránh hung, tránh dữ thì sao lại bài bác? Vả lại ngày nào lành, tháng nào tốt là do kinh nghiệm tích lũy từ nhiều thế hệ truyền lại cho đời sau, chắc gì không căn cứ, thì sao gọi là dị đoan? Trên tất cả tàu hàng chở khách, lênh đênh trên biển cả, du lịch tham quan đó đây, vào cầu thang máy, khách sẽ không bao giờ tìm thấy tầng số 13 thì đã có mấy ai lên tiếng là mê tín?

Như vậy, nếu có tính chuyện chọn ngày tốt, giờ lành để xuất hành hái lộc cầu tài đầu năm thì cả 3 ngày đầu năm đều xấu. Yếu tố ngày đã mất thì Giờ và Hướng xuất hành sẽ trở nên 2 yếu tố quyết định.

1/ Xuất hành hướng Tây Bắc:
Theo Huyền Không cổ Học, năm nay Cữu Tử nhập Trung Cung, Nhất Bạch cư tại vùng Tây Bắc. Lẽ ra Nhất Cữu thập thành thì hai khí phải thông, hướng này phải Tốt. Thế nhưng có sách nói năm nay Tây Bắc nhiều Tử Khí cho dù có gặp 2 sao Thiên Đức, Phúc Đức cũng sợ không địch nỗi Tuế Hình. Lại thêm tìm mãi vẫn không thấy Lộc thấy Tài thì thôi, phương này tốt nhất nên tránh.

2/ Xuất hành hướng Chính Bắc:
Phương này Ngũ Hoàng đại sát đương ngụ. Ngũ Hoàng là khí sát dữ tợn, hung hản nhất trong sát bàn. Tránh cho xa phương này để khỏi tổn hại người lẫn của.

3/ Xuất hành hướng Đông Bắc:
Phương Đương Vận của Vận 8 Hạ Nguyên. Thái Dương, Thiếu Dương, Hồng Loan, Quốc Ấn đang lãng vãng kề cận Thái Tuế tại nơi đây. Chính khách nào đang cầu Danh chứ không cầu Lợi, phải dứt khoát nên chọn hướng này mà xuất hành đầu năm.

4/ Xuất hành hướng Chính Đông:
Sách vở người xưa để lại dạy người đời sau cách truy tìm hướng đương ngụ của Tài Thần. Vị này di chuyển đó đây liên tục không phải dễ dàng mà kiếm được. Tài Thần hiện tại chính Đông, đang bị vây hãm bởi Ngũ Quỷ, Tang môn, Tai sát. Đặc biệt Thất xích hay Phá Quân, chính là Tặc tinh thô bạo, kèm chặt bên cạnh Tài Thần. Thời kỳ kinh tế toàn cầu khủng hoảng có khác. Tài Thần bị vây chặt bởi toàn sát thần hắc ám thì thường dân thiên hạ bốn phương sao khỏi khốn khổ, lao đao?
Khoa Cổ Dịch Huyền Không thì lại khuyên người đương Quyền cao Chức trọng hay những kẻ phải có thực tài, đãm lược Kinh doanh, đầu năm có thể chọn hướng này xuất hành. Khoa này cho rằng Thất Xích dù là Tặc Tinh nhưng khi bay đến cung Tam Bích, khắc xuất, tạo thành quẻ Tam Ban. Hai cung Chấn Tam, Đoài Thất vốn đối xung, nhưng khi hợp nhất, hai khí lại thông, Suy cũng thành Vượng. Thất Xích vượng sẽ phát Tài to. Nhắc lại, phải người đãm lược hay đang chức trọng tài cao mới có thể chọn hướng này xuất hành đầu năm.

5/ Xuất hành hướng Đông Nam:
Thái Âm, Long Trì, đặc biệt sao đương vận Bát Bạch của Vận 8 Hạ Nguyên đang ngụ tại đây. Hướng này cũng chính là hướng Ngênh Tài. Năm nay, ngày mồng Một, nhất định nhắm Đông Nam, hướng Tốt nhất mà xuất hành hái lộc, cầu lợi, nghênh tài.

6/ Xuất hành hướng Chính Nam:
Tuế Chi đức, Lộc Tồn hay Tuế Lộc, Luu hà, Nguyệt Đức . . . Cát tinh hầu như tập trung hết tại phương này. Không may phương này đang bị Tuần Không án ngữ. Đúng gặp năm kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng, Tối Cát tinh đều bị Tuần Không vây kín. Vị nào làm ăn có máu mạo hiễm thử chọn hướng này biết đâu lại thắng lớn?

7/ Xuất hành hướng Tây Nam:
Cho dù gặp được một số Đại cát thần cũng không nên chọn xuất hành hướng này. Lý do hướng này đang bị Triệt Lộ, lại thêm Tuế Phá đang còn lãng vãng nơi đây.

8/ Xuất hành hướng Chính Tây:
Hướng của Nhị Hắc, Đại Sát đang đi với Đại Tướng Quân mà không có Thái Dương, Thái Âm hoặc tử bạch kềm chế thì đầu năm xuất hành nhớ nên tránh xa phương này.

Giờ Hoàng Đạo:
Xuất hành các giờ Dần, Mão, Tỵ và Thân.
Dần là từ 3 đến 5 giờ sáng.
Mão là từ 5 đến 7 giờ sáng.
Tỵ là từ 9 đến 11 giờ sáng.
Thân là từ 3 đến 5 giờ chiều.

Tóm lại, năm nay thiên hạ khó cầu Tài là vì Tài Thần đương bị các Sát thần vây hãm. Cầu Lộc thì Lộc Tồn hay Tuế Lộc bị án ngữ của Tuần Không. Năm nay lại rơi đúng nhằm vào thời kỳ kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng trầm trọng. Xuất hành đầu năm nên chọn hướng Đông Nam. Vi nào đương quyền cao, chức trọng có thể xuất hành hướng Chính Đông. Vị nào có máu làm ăn mạo hiểm thì có thể nhắm hướng Chính Nam mà xuất hành.

Quảng Đức.

Phù Chú

Năm NGỌ, khoa Phong Thủy nói chuyện:
Phù Chú


Quảng Đức

Dịch Lý thì lấy Âm Dương, Ngũ Hành làm đầu. Phong Thủy Địa lý thì lấy Cương Nhu, Động Tĩnh, Tụ Tán, Thư Hùng làm trọng. Thuở ban sơ, Âm Dương hãy còn tách biệt, trời đất còn sương khói mịt mờ, sông núi chưa được định hình. Thế rồi Âm Dương va chạm, y như đực cái, trống mái gặp nhau, trời đất bỗng quay cuồng, phong khí cọ sát, thủy thổ kích động, cái gì cứng mạnh thì trồi lên, tồn tại, cái gì mềm yếu thì bị tiêu tán, chìm lấp. Núi sông từ đó mới được hình thành. Mới đầu cứ ngỡ núi non cao vút, cương cường chắc tính phải Dương. Những nơi bằng phẳng, nhu mì thì tính phải Âm. Thực tế khác biệt là vì, một bên là Hình và một bên là Khí. Hình mà càng cương cường, thẳng tắp, bạo liệt thì Âm khí càng nhiều. Hình mà càng nhu mì, bằng phẳng, nhẹ nhàng, lã lướt, quanh co thì Dương khí lại lớn. Thái Mục Đường tại Địa Lý Đại Toàn giải thích rõ thêm là Thể của sơn phong vốn cương cường mà Dụng thì lại nhu nhược, do thế của Núi cao sừng sững mà lại bất động, đứng yên. Thể của Thủy nhu nhuyễn mà Dụng thì lại cương cường do Thủy ở chổ thấp lõm mà lại lưu động không ngừng.

Khoa Phong Thủy cho rằng Nước mà xối xả chảy thẳng là nước Vô Tình. Núi mà cứng đơ, thẳng tắp là Núi có hình của con Hổ chết. Nước phải ngoằn ngoèo uốn khúc . Núi thì phải ôm vòng, chở che thì mới đem lại sự cát tường. Uốn khúc ngoằn ngoèo như vấn vương, không nỡ lìa xa là Nước có tình có nghĩa. Ôm vòng như người mẹ dang tay ru ôm vào lòng cho con được ấm là Núi có ý chở che. “ Khúc tất hữu tình” hay “Thủy dừng thì khí Tụ” hoặc “ Nhất Tụ Khí, nhì Tàng Phong” thì đều mang ý nghiã của sự cát tường. Từ hàng ngàn năm trước, các nhà Phù hiệu học rõ biết là Khí có thể Tụ tại Hình, cho nên đã bắt chước vạch vẽ những đường cong ngoằn ngoèo giống y như hình ảnh ngoằn ngoèo thực tế của núi sông thành những lá Phù để trấn trạch. Là vì, không phải bất cứ nhà nào cũng may mắn có được “ Khí tụ “ hoặc “ Phong tàng” . Phù, có thể chia làm hai loại. Phù được vạch vẽ bằng những đường uốn lượn, xoắn cong, vòng vèo hình chữ S hay số 8, mang ý nghĩa của sự cát tường : “ Khúc tất hữu tình “ là loại Phù đường Cong có công năng nuôi dưỡng, sinh phò cho Tài cho Lộc. Loại Phù đường Thẳng thì lại có nhiệm vụ trừ tà ma quỉ yếm , hay thường gọi là Phù “ Chắn Quỉ khu Tà “ cho nhà cửa, gia đạo được yên. Loại Phù đường Thẳng lại cũng có khả năng trị bệnh nhờ vào nguyên liệu viết Phù chủ yếu là Hùng hoàng, Chu sa hay Đan sa thay mực . Nguyên liệu giấy để viết Phù thì làm từ rễ, lá và thân tre . Theo Đông Y, lá tre có thể chữa được các chứng phiền muộn, quỷ chứng, ác khí, tâm kinh. Rể tre thì chữa được kinh sợ, trẻ con kinh giật, phiền muộn. Chu sa hay là đan sa chủ trị ngũ tạng bách bệnh, dưỡng thần hồn phách, thông huyết, trúng độc, đau bụng, sát quỷ , lại còn trị được tâm nhiệt và khu trị được tà. Riêng Hùng hoàng là vị thuốc Bắc chủ yếu chữa gan và trấn kinh.

Như vậy, Phù đường Thẳng có công năng trị bệnh hay sát được Quỉ, khu được Tà là nhờ vào nguyên liệu của lá Phù. Người bệnh chỉ cần đốt Phù thành than, hòa tí nước lạnh, uống vào thì thấy ngay được công hiệu của lá Phù linh hiễn. Các loại Phù đường Cong thì lại phải nhờ đến máy móc thiết bị hiện đại mới có thể chứng minh được công năng của nó. Các đuờng cong ngoằn ngoèo trên các lá Phù, mới đầu thì ngỡ rằng, các nhà Phù hiệu học chỉ cần bắt chước, rập khuôn các đồ hình của các nơi được gọi là Địa Linh mà vạch vẽ lại thành các lá Phù. Hình của lá Phù y rập như Hình của các Địa Linh thì chắc phải có Khí của Nhân Kiệt. Là vì, Khí thì dựa vào tượng mà thành Hình và Hình thì có thể dùng để thể hiện Khí. Thật ra, không chỉ giản đơn có Hình là đã có khả năng thể hiện và mang tải được Khí. Các nhà Phù hiệu học hơn ai hết cần phải nắm rất vững quy luật di động của Lường Thiên Xích , phải thuộc lòng như cháo nếp 81 bộ vị Thiên Căn mà căn bản thì rút từ Hà Đồ Lạc Thư của Dịch Lý. Lạc Thư là hình ảnh thu gọn của Trời, Đất và Người. Hà Đồ chính lại là đường Quỹ Tích của vòng xoắn thuận nghịch của vạn vật trong Vũ Trụ. Căn cứ Âm Dương của Năm, của Tháng, Thượng hay Hạ Nguyên mà tìm ra bước khởi . Từ bước khởi , các đường cong vòng vèo , xoắn tít vào nhau sẽ được vạch vẽ theo chiều nghịch hay chiều thuận . Tất cả đường Vẽ dù thuận hay nghịch cũng đều phải qua hết 9 bước mới hoàn tất được lá Phù. 9 bước với lại 9 điểm khác nhau để khởi , vị chi tất cả là 81 bộ vị. Gọi là 81 bộ vị trong phép Lường thiên xích, mà các nhà Phong Thủy thường gọi là Thiên Căn . Thế nhưng, cho dù thông suốt 81 bộ vị và tường tận ý nghĩa của Hà Đồ Lạc Thư , thì cũng chỉ có thể mon men vào nghề để cầm bút tập tành vạch vẽ mà thôi.

Hãy thử nhìn vào Yếu Chỉ:
“ Buổi sáng vừa thức dậy, ngồi quay mặt về hướng mặt trời mọc, thanh lọc tạp niệm, tụ khí tại đan điền , tay phải cầm chặt bút, mắt theo ngọn bút, dồn hết khí ra đầu bút , trong vòng một Tấc phải vẽ cho hoàn tất một lá Phù.”

Một Tấc là một hơi thở, mà một hơi của người khỏe mạnh thì chỉ có “ Tứ Chí” . Tức là Mạch cả 3 bộ Thốn Quan Xích tả hữu cũng đều chỉ đập có 4 nhịp . Võn vẹn 4 lần tích tắc , mà có thể dồn được hết nội lực để Vẽ cho xong một lá Phù, thì không phải ai cũng có thể làm được. Giấy Vẽ Phù đòi hỏi phải làm từ nguyên liệu lá, rễ và thân Tre. Mực họa Phù phải là Hùng Hoàng hoặc Chu Sa. Như vậy tìm cho ra được một nhà Phù hiệu học, có đủ 10 thành công lực , để vạch vẽ cho được một lá Phu,ø khả năng chuyển tải được trường Khí trong nhà để mà cầu thỉnh đem về Trấn Trạch, quả thực không phải là chuyện dễ dàng. Có điều không rõ tại sao Bút dùng đễ vạch Vẽ các lá Phù đường Cong đều buộc phải dùng Bút cũ hay Bút đã tà, mà yếu chỉ gọi là Bại Bút. Có phải những gì sắc nhọn, thẳng tắp thì Khí Âm thường nhiều, tượng của tiểu nhân, cho nên các nhà Phù hiệu học không được dùng đến? .

Gần đây, các nhà khoa học đã chế tạo được thiết bị thu nhận, đo lường năng lượng của Khí và đã phát hiện trong Phù có Khí. Nghĩa là Phù có thể điều tiết được trường Khí và khả năng trị được một số bệnh. Đồng thời, các nhà khoa học cũng đã phát hiện Khí là nguồn năng lượng có dạng sóng, hình xoắn ốc và ngay cả mật mã di truyền ADN của cơ thể con người lại cũng là các hình vòng xoắn kép y như những vòng xoắn của những Phù đường cong để trấn trạch. Với máy dò cực nhạy, các nhà khoa học đã đo được sự khác nhau của trường khí trong phòng hay trong nhà và nhận thấy ngoài những lá Phù thì những bức sơn thủy hay những bức thủy pháp và ngay cả những hồ cá cảnh, hòn non bộ..... cũng đều có khả năng mang tải được Khí. Ngoài ra còn những tấm gương soi, những phong linh hoăc những trái cầu crystal đều khả năng có thể tán hoặc truyền dẫn được Khí. Có điều cần lưu ý là phải biết treo hay đặt để cho đúng chỗ. Là vì Thủy ở chổ Vượng thì chổ vượng sẽ thành Suy. Thủy ở chổ Suy thì chổ Suy cũng thành Vượng. Đồng thời phải biết chổ nào cần phải tán , chổ nào cần phải dẫn mới có thể quyết định chọn phương pháp dụng Phong Linh, Crystal hay dụng Gương để soi, để dẫn hay để mà tán.

Hoàng Công Thạch là Tổ Sư của Phù Chú trấn trạch. Theo truyền thuyết thì Phù trấn trạch của Hoàng Công Thạch công hiệu như thần là nhờ 5 lá Ngũ Nhạc trấn ở Trung Cung và 4 hướng Đông Tây Nam Bắc . Nhà nào mà tu tạo phạm Thổ thần, Thần sát, Đại hao thì Hoàng Công Thạch có Thập Nhị Niên Thổ Phù. Nhà nào mà phạm Tam Sát thì Hoàng Công Thạch sẽ có Phù trấn Tứ Phương TinhThoái Phương Thần và nếu nhà nào tai họa liên miên thì có Phù Tam Giáo Cứu Trạch, gồm 8 lá, trấn theo Bát Quái Đồ Hình . Có điều Phù của Tổ Sư Hoàng Công Thạch hoàn toàn được vạch vẽ bằng Son trên gổ cây Đào- Nếu thấy mặt sau có chử Thiện thì phải treo đúng vào giờ Thìn ngày Mồng 8 tháng 4 Âm Lịch. Nếu gặp chử Phúc thì tìm giờ Dần, ngày Dần treo thì Phù mới linh. Phù của Hoàng Công Thạch nỗi tiếng linh hiễn nhờ tại Son, tại Gổ cây Đào hoặc là nhờ vào Nội Lực của ông Thầy thì chưa rõ. Thế nhưng, trong Phù có Khí thì chắc chắn trăm phần.
Hàng năm, gia đình nào cũng đều mong muốn cho gia đạo bình an, làm ăn khấm khá, sức khỏe dồi dào. Mà đâu phải ai cũng muốn chạy vạy đi tìm cho ra một lá Phù trấn trạch ?. Vã lai, có đi tìm thì chắc gì đã may mắn tìm gặp được một lá Phù linh hiễn? Chỉ cần tìm được ra một nhà họa Phù thuộc lòng các yếu chỉ , có đủ giấy làm nguyên liệu từ Tre và biết dùng Bại Bút là đã quá khó khăn rồi, nói chi đòi hỏi thêm công lực cần phải thượng thừa . Lại còn bị tiếng oan là người mê tín dị đoan. Thôi thì có sẳn tài liệu người xưa để lại, dạy cho đời sau cứ hễ gặp năm Nhâm Ngọ , Vận 7, Hạ Nguyên , thuộc năm Dương, thì cứ việc thuận hành, lần theo 81 Bộ Vị, chọn 9 bước tuần tự mà tiến theo Quỷ Đạo vận hành của Cửu Tinh:


Lục Bạch 6TỐN Nhị Hắc 2 LY Tứ Lục 4 KHÔN
Ngũ Hoàng 5 CHẤN Thất Xích 7 Trung Cung Cữu Tử 9 ĐOÀI
Nhất Bạch 1 CẤN Tam Bích 3 KHẢM Bát Bạch 8 CÀN

Bước thứ Nhất; Nhất Bạch đến Cấn cung. Cấn là phương Đông Bắc.
Bước thứ Hai: Nhị Hắc đến Ly cung. Ly là phương Chính Nam.
Bước thứ Ba: Tam Bích đến Khảm cung. Khảm là phương Chính Bắc.
Bước thứ Tư: Tứ Lục đến Khôn cung. Khôn là phương Tây Nam.
Bước thú Năm: Ngũ Hoàng đến Chấn cung. Chấn là phương Chính Đông.
Bước thứ Sáu: Lục Bạch đến Tốn cung. Tốn là phương Đông Nam
Bước thứ Bảy: Thất Xích nhập trung cung.
Bước thứ Tám : Bát Bạch đến Càncung. Càn là phương Tây Bắc.
Bước thứ Chín: Cữu Tử đến Đoài cung. Đoài là phương Chính Tây.

Thông thường Bạch và Tử đến phương nào thì phương đó Tốt. Năm nay, ba phương Đông Bắc, Đông Nam và Tây Bắc là 3 phương Tốt lành. Riêng Phương Tây Bắc cho dù gặp Kiếp Sát, Lưu Hà vẫn không thể gây ảnh hưỡng được đến Lộc Tồn, Tuế Lộc và nhất là Tuế Chi Đức. Vị nào may mắn thỉnh được Phù đường Cong thì chọn 1 trong 3 phương này mà treo. Vị nào không thỉnh được Phù thì nhớ ngày đầu năm mới , cứ nhắm 1 trong 3 phương này mà xuất hành thì vừa được lợi Tài, lại vừa được lợi Lộc. Vị nào thỉnh được Phù đường Thẳng thì phải chọn đúng phương cư ngụ của Ngũ Hoàng mà trấn. Năm nay Ngũ Hoàng cư ngụ tại Chấn cung tức thị Chính Đông là ngay hướng mặt trời Mọc. Đầu năm xuất hành , nhớ kỹ là phải tránh đi về hướng Chính Đông. Là vì, Ngũ Hoàng đến phương nào thì phương đó sẽ gặp tai họa liên miên.

Người xưa thường nói: “ Kẻ cố chấp luôn gặp nguy hiểm. Người giỏi ứng biến theo chữ Thỡi, không gì không lợi “. Thiên Can: Nhâm hành Thủy. Địa Chi: Ngọ hành Hỏa. Thủy khắc Hỏa là Can khắc Chi goị là Chế. Như vậy, năm nay Nhâm Ngọ chưa hẳn là năm Tốt Lành thì lại càng không nên cố chấp. Xuất hành đầu năm, nhớ tìm các hướng Đông Bắc, Đông Nam mà đi. Riêng Vị nào đang gặp khó khăn về công ăn việc làm, tình duyên lận đận thì hảy chọn hướng Tây Bắc mà xuất hành. Năm Nhâm Ngọ: Tuế Đức tại Nhâm mà Nhâm Giáp phùng Càn, tức tại hướng Tây Bắc. Trong Tứ Đức thì Tuế Đức đứng đầu. Đi về hướng Tứ Đưc, không gì không lợi !

Quảng Đức

NHÀ THỜ ĐỨC MẸ VN

NHÀ THỜ ĐỨC MẸ VN
Qua cách nhìn của Thuật Phong Thủy.

Quảng Đức.


Lần đầu tiên khi nhìn thấy thánh đường này tôi đã thấy xúc động ứa nước mắt. Tôi thấy đây là ngôi thánh đường đầu tiên được xây theo kiểu Việt Nam ở Hoa Kỳ. Những đường nét tuy rất thanh nhã theo kiểu kiến trúc Việt nam nhưng nó diễn tả một cách hùng hồn hào khí của người Viêt. Giữa Thủ Đô Hoa Kỳ với Đài chiến sĩ trận vong của Chiến Tranh Việt Nam và mọi người nói chuyện chiến tranh và chính trị cũ và mới, ngôi thánh đường này sẽ trở thành một lời mời gọi để người ta suy nghĩ một cách sâu xa hơn về cuộc chiến ở Việt Nam, một nơi để cầu nguyện xin ơn tha thứ và chữa lành cho những kỷ niệm đau thương của chiến tranh và của quá khứ. ( LM. JP Minh Vũ ).

Hai mươi năm trước, Maya Ying Lin , cô sinh viên người Mỹ gốc Trung Hoa của Khoa Kiến Trúc Trường Đại Học Yale, tuổi đời mới vừa tròn 21 mà đã hội nhập sâu sắc Khoa Phong Thủy , biết hợp phối trường phái Lý Pháp Phúc Kiến, đơn thuần dựa vào Ngũ Hành Bát Quái với Hình Pháp của trường phái Giang Tây, chuyên dùng Hình và Khí để thiết kế đồ án kiến trúc xây dựng VietNam Veterans Memorial trên Công Viên The National Mall tại Thủ Đô Washington DCõ. Công trình kiến trúc này đã gây ra không biết bao nhiêu cuộc cãi vã và tranh luận, là vì lần đầu tiên trên đất Mỹ, Maya Ying Lin bức phá lệ thường, dám phá bỏ quy ước xây dựng một Đài Tưởng Niệm thông lệ phải nằm cao trên mặt đất. Vietnam Veterans Memorial chỉ cóù hai bức tường bằng đá hoa cương màu đen mang tên những người Mỹ đã tử trận hay mất tích trên chiến trường Việt Nam. Hai bức tường giao nhau tạo thành chử V hoàn toàn nằm thấp dưới mặt đất tạo thành hai mũi nhọn. Một từ hướng Tây Bắc Càn Phương đâm thẳng vào tâm Washington Monument, một từ hướng Đông Bắc Cấn Phương đâm thẳng vào Lincoln Memorial. Hai mũi nhọn tấn kích cương cường bạo liệt hoàn toàn không được Maya Ying Lin chế hóa lâu ngày sẽ trở thành hung họa. Pháp độ chọn lựa chế hay hóa để có thể trung hòa những khắc phạm tùy thuộc vào mức độ tinh chuyên của mỡi người và phản ảnh nền Văn Hóa của cả một Dân Tộc.

Dân Tộc Việt Nam vốn hiền hòa, chất phác cho nên thường chọn Hóa hơn là chọn Chế . Khoa Địa Lý cũng thường dạy phép Ngũ Hành Tham Sinh Kỵ Khắc. Nên Sinh chứ không nên Khắc, cho dù Khắc Xuất vẫn còn Lợi Nhập. Tinh kết của các pháp độ chọn lựa trong các công trình xây dựng cốt lõi tạo thành tính Dân Tộc. Người Việt ngay từ thời Phùng Nguyên cổ xưa đã biết kết hợp hài hòa giữa Vuông và Tròn thành những nét Cong uyển chuyển. Những hoa văn uốn lượn này có thể liên quan đến mặt trăng lúc tròn, lúc khuyết , mặt trời, hạt cây, lá , dòng nước và các sóng cuốn của nước...khả năng là để biểu hiện chu kỳ của mùa vụ. Những hoa văn rất đẹp, cực kỳ phức tạp và các đường Cong với các nếp uốn lượn bất ngờ đã là sở thích của người Phùng Nguyên trong việc tạo hoa văn rrang trí trên mặt gốm. ï ( Hà Văn Tấn, Khảo Cổ Học Việt Nam, nxb HàNội,1999 ). Trước Hà Văn Tấn, các Linh mục Lương Kim Định, Vũ Đình Trác, Trần Cao Tường cũng đã khẵng định những Nét Cong trên Mái là đường nét đặc thù của Việt nam cả ngàn năm trước Công Nguyên. Trong kiến trúc, mỗi khi xây dựng Đền, Đình hay Chùa Miếu, người Việt đã biết tạo dáng Mái Cong. Một mặt hợp với nhãn quan và thẩm mỹ, mặt khác là để tránh những khắc phạm do hiệu ứng của Đường Thẳng hay những Góc Nhọn như hình ảnh của những mũi tên trên cung sẳn sàng nhả dây, lâu ngày tạo thành những làn sóng nguyên khí gây tác hại cho các nhà khác ở chung quanh. Thông thường trên các Mái Cong, các hoa văn sóng nước, hoa mây được chọn để trang trí. Các nơi quan trọng của Vua, Chúa, Đình, Chùa thì mới được trang trí các hình tượng của Rồng uốn khúc là vì Rồng tượng trưng cho Quyền Uy tối thượng. Ngay cả khi dùng tượng Rồng để trang trí cũng phải cân nhắc kỷ. Rồng mỗi thời đại có Dáng và Vẽ đặc thù riêng, nhưng Rồng phải thanh thoát, hiền hòa, đôn hậu như Rồng trước đời Lý mới được chọn trang trí trên những Mái Cong. Dáng Rồng thời Khang Hy hay Rồng đời Nguyễn nanh vuốt, bặm trợn, dữ dằn hoàn toàn không được chọn. Những Mái Cong với những trang trí trên Mái trở thành những Ký Hiệu tế nhị để phân biệt Vua Tôi- Công hay Tư - Đạo hay Đời. Lệ tục này lâu ngày trở thành luật tục và đó cũng là một trong những mấu chốt tạo thành nền Văn Hóa Việt Nam.

Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam ngay từ thế kỷ đầu của kỷ nguyên cho nên những kết tinh tinh thần cốt lõi của Dân Tộc Việt được thể hiện rõ ràng - rất dễ nhận thấy qua những nét Cong của các Mái Chùa . Những nơi tập trung uy quyền của Vua Chúa ngày xưa và các nơi phục vụ quyền lợi cộng đồng nhất định kết cấu Mái Cong - phải nhìn vào các hoa văn và các hình tượng trang trí trên Mái tạo thành những Ký hiệu mới có thể phân biệt. Mái Chùa thường Cong, nhưng Mái Cong thì quả thật chưa phải là Chùa . Cha Peter Long rõ biết điều đó cho nên Cha mới đã can đãm đối đầu với những tranh luận trong suốt quá trình xây dựng nhà Thờ Đức Mẹ Việt Nam Mái Cong theo lối Kiến Trúc và Ý Nghĩa Văn Hóa Việt – Phải sau 15 năm, kể từ ngày có được mãnh đất tọa lạc tại 11814 New Hampshire Ave, Silver Spring, Maryland, ngay cạnh Thủ Đô nước Mỹ, Nhà Thờ Đức Mẹ Việt Nam hoàn thành và mới được khánh Thành vào ngày 4 tháng 11 năm 2000 vừa qua.

Khách đến 3 vùng Maryland, Virginia hay Washington DC thường phải vào Beltway 495. Exit 28 A sẽ đưa khách vào Silver Spring. Con đường New Hampshire đang nhẹ nhàng uốn lượn, bỗng quay mình vòng về phía trái như muốn e ấp tình tự , ôm ghọn Đền Thánh Giáo Xứ Mẹ Việt Nam vào lòng, tạo thành thế đất Câu Vàng lượn trái ôm thân. Khoa Phong Thủy thì lấy Aâm Dương, Ngũ Hành làm căn bản. Thuật Phong Thủy thì lấy sự hài hòa, ứng hợp làm trọng. Aâm thì tìm Dương, Dương thì tìm Aâm. Trong Aâm thì phải có Dương, trong Dương thì phải có Aâm thì Khí mới hài hòa, trời đất mới ứng hợp. Từ trung tâm khu vực Đền Thánh Giáo Xứ Mẹ Việt Nam nhìn thẳng vào con suối nhỏ phía sau thấy từ Trái sang Phải, Nước chảy về phương Sửu Đông Bắc. Tỵ Dậu Sửu tam hợp hội tạo thành thế đất Dương KIM. Cổng Tam Quan quay mỡ về hướng Đông Nam Tốn Phương Aâm MỘC. Ngôi Thánh Đường Mái Cong 3 lớp Thủy hình. Kim Thủy tương sinh, Aâm Dương hòa hợp thì cát lợi mợi sinh thành. Tam Quan cũng là biểu tượng của Chúa Ba Ngôi và cũng nhằm biểu tượng cho Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa . Cổng chính bên ngoài mặc dù có kết cấu cao thấp không Đồng nhưng lại được nối liền ngay với cửa bên trong . Cổng Vào và Thánh Điện là một khối Nhất Thể. Cổng và Cửa hòa hợp, hoàn toàn không có ranh giới tách chia, không riêng lẽ phân biệt kẻ sang người khó, kẻ trọng người khinh. Ngay tại Tiền Đền Thánh Giáo Xứ Mẹ Việt Nam, triết lý thâm sâu của người Á Đông : Quân Tử thì Hòa mà Không Đồng đã được thể hiện hết sức sâu sắc, tế nhị nhưng lại rất rõ ràng, không chút ẩn dấu.

Linh Mục Kim Định thì dạy phép Âm Dương hòa hợp. Cha Nguyễn Hữu Lương thì dạy Kinh Dịch với Vũ Trụ Quan. Nhưng mỗi khi luận Âm Dương Dịch Lý và Vũ Trụ Quan thì người đời cho rằng mê tín dị đoan. Là vì dị đoan mê tín đã gây ra quá nhiều tai hại và làm mê muội con người. Khoa Phong Thủy hoàn toàn dựa trên căn bản Âm Dương Dịch Lý và Ngũ Hành sinh khắc. Aâm là tối, Dương là sáng. Tính của Âm thì Trầm, tính của Dương thì Phù nhưng Hình của Âm thì lại cương cường bạo liệt, Hình của Dương lại bằng phẳng nhu mì. Từ trung tâm Đền Giáo Xứ Mẹ Việt Nam nhìn về phía trước hướng Đông Nam, Tốn phương Âm Mộc, thì duy chỉ một hướng Chính Đông, Chấn phương, Dương Mộc mới có thể đưa Khách vào Đền. Hướng này hoàn toàn bị che lấp bởi một căn nhà bằng gổ khá cao, chủ nhà đang muốn bán. Cho dù Cha Peter Long đã biết vận dụng sâu sắc phép Ngũ Hành tương sinh bằng cách phối trí chu vi Thánh Điện hình Vuông hành Thổ và hình Tròn hành Kim trên Nóc nội Đền để cho Kim Thổ tương sinh , mà lối vào Thanh Long bị che chắn bởi Âm Khí của ngôi nhà cao phía Trái thì Khí sẽ không thông được. Khí không thông như huyệt bị Bế thì Nguyên Thần sẽ vô lực, khó mà có thể đi sinh cho Dụng Thần . Lại nói : Nước chính là Khí thì Nươc có thể thấy được mà Khí thì hoàn toàn không thể thấy . Vì vậy, các nhà Phong Thủy cho rằng những gì không thể thấy được thì gọi là Khí, những gì có thể thấy được thì chính lại là Nước. Theo phép Huyền Không Phong Thủy thì Thủy lấy Suy làm Vượng. Chổ nào Suy mà thấy Thủy thì Suy cũng thành Vượng và chổ nào Vượng mà thấy Thủy thì Vượng cũng thành Suy. Ngày mồng 4 tháng 11 năm 2000 khánh thành Nhà Thờ của Giáo Xứ Mẹ Việt Nam nhằm vào ngày Bính Dần, tháng Bính Tuất, Năm Canh Thìn thuộc Vận 7 Hạ Nguyên thì Lục Bạch cư tại Tốn Đông Nam cũng chính là Hướng bàn của Ngôi Đền , và Ngũ Hoàng cư tại Chính Đông , Chấn cung Đương Mão tọa chính ngay tại vị trí của căn nhà đằng trước bên phía Trái. Thường Ngũ Hoàng đến đâu thì gây tai họa đến đó cho nên nếu đủ khả năng thì cố gắng nên mua ngay căn nhà đó đúng lúc chủ nhà đang muốn bán. Từ nay cho đến hết năm Quý Mùi ( 2003) phải giữ nguyên trạng để không động đến phương cư ngụ của Ngũ Hoàng. Sau năm 2004 bước qua Vận 8 cải tạo lại ngôi nhà hoặc phá bỏ để thông Khí cho toàn bộ Ngôi Đền. Cha Long đang dự định đào một Giếng Nước trước khuôn viên Nhà Thờ để nhắc nhở đến Giếng Rửa Tội, là sám hối , hòa giải với Chúa và với anh chị em trước khi bước chân vào Thánh Điện , thì vị trí của Giếng cũng cần phải cân nhắc, tính toán lại cho thật kỷ. Là vì ,Thủy đến thì Suy cũng làm Vượng và Vượng cũng có thể biến thành Suy.

Xét qua tứ trụ của ngày tháng Khánh Thành, chưa tính đến trụ Giờ mà lại đã xuất hiện 2 chử Bính. Bính là Nhật Nguyên thì Bính trụ Tháng là Bại Tài. Lại còn địa chi Tuất của trụ Tháng xung với Thìn của trụ Năm. Xung với Niên Thần là Tuế Phá, là Đại hao. May là Cha Peter Long chọn ngày này để Khánh Thành nhà Chung để đời đời Thờ Phượng CHÚA cho nên chắn chắn sẽ được an lành. Nếu là một tư gia mà khánh thành đúng vào ngày Niên Phá, Đại Hao thì chủ nhân cho dù hôm nay có giàu có bao nhiêu đi nữa cũng sẽ phải có ngày bị Đại Hao gây hại !

Dịch là đầu mối, là nguồn khởi cho tất cả các Khoa khác thì Khoa Phong Thủy nhất định phải chịu ảnh hưỡng bởi sự biến hóa không cùng của các Quẻ Dịch. Ngôi Đền được xây dựng trên thế đất Dương Kim thì Đông Nam Thìn Tỵ là chốn Trường Sinh, là vì Dương Kim trường sinh tại Tỵ. Thường thì các nhà Phong Thủy hay chọn hướng Đế Vượng để mong cho chóng phát Tài Quan. Nhưng nếu xây dựng một nơi để đời đời Thờ Phượng Chúa thì cần phải chọn hướng Trường Sinh vì ngay sau Đế Vượng là Suy, Bệnh, Tử, chóng phát chóng tàn. Trường Sinh thì chậm mà lại vững chắc lâu dài. Có thể Cha Peter Long rõ biết điều đó, nhưng Cha lại vô tình bỏ qua tính Phục Ngâm của Quẻ Dịch. Trong Dịch có hai loại đặc biệt là Phản Ngâm và Phục Ngâm. Phản Ngâm thì có xấu có tốt, nhưng Phục Ngâm thì chắc chắn phải chịu xấu hoàn toàn. Ngôi Đền không bị Phản Ngâm nhưng ngay đằng sau ngôi Đền hướng Tây Bắc lại là Chốn của Phục Ngâm. Khí luân lưu vào Đền từ chính Đông phương Chấn thì ngay phía sau Nhà Thờ là phương Càn Tây Bắc. Quẻ Dịch, Càn biến Chấn, Chấn biến Càn là Phục Ngâm. Phép An Du Niên của Trạch Biến Pháp thì Chấn biến đến Càn là Liêm Trinh - Hỏa hành - Ngũ Quỷ. Cha Peter Long có thể không tin vào Quẻ, nhưng Cha phải tin rằng mỗi khi Cha động đến khu vực ngay phía đằng sau nhà Thờ , thì chắc chắn ít nhiều cũng phải sinh chuyện, là vì trong quá khứ Cha gặp phải ít ra cũng đã nhiều lần.

Lý Bạch vừa tài hoa, vừa lãng mạn, vừa kiêu hùng–Tuệ Sĩ đã nói như thế trong ” Tô Đông Pha, những Phương Trời Viễn Mộng “ - là vì , Lý Bạch là tay cự phách, khả năng có thể Lượm lặt những phế khí của trời đất, để thống ẩm, cuồng ngôn. Ngày nay, Cha Peter Long kiên trì quyên góp, lượm lặt từng viên gạch để xây dựng Nhà Thờ Đức Mẹ Việt Nam theo lối kiến trúc Văn Hóa Việt Nam ngay cạnh Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn mà có người lại gọi Ngài là “Oâng Cha ăn mày” thì quả thật quá bất công.

Quảng Đức

Những Chiếc Gương Soi

Những Chiếc Gương Soi Trong Khoa Phong Thủy
Tác giả: Quảng Đức

Hoàng Công Sư Tổ dạy phép Dương Trạch trong Thiên Tinh Tâm Pháp có nhắc:

"Một Âm, một Dương gọi là Đạo.
Một Động, một Tĩnh gọi là Khí.
Một Đến, một Đi gọi là Vận".

Rõ ràng người chỉ mới nói về Khí chứ chưa nói về Hình. Mà Hình và Khí thì hoàn toàn khác biệt như Âm khác với Dương, như Tĩnh khác với Động. Lưu Đơn Tố trong Kim Hàm Thư giải thích: Âm là Cường, Dương là Nhược. Nhược gần Cường mà sinh thành vạn vật. Dương tính nhu nhuyễn, Âm tính cường kình. Cường Kình mà gần Tế Nhược thì sẽ hóa thành sinh khí.

Lưu Giang Đông trong Thiên Bảo Kinh ghi rõ: Mạch Cường thì thế đến hoàn toàn Âm, trông như mũi kiếm, sống kiếm, hình dáng và khí thế cực kỳ cương mãnh, hiễn lộ rõ ràng không chút ẩn giấu, thế đến không hề có ý tiếp thụ, như vậy tức ngụ ý kẻ tiểu nhân, cũng gọi là cường. Mạch Nhược thì thế đến hoàn toàn Dương, mềm mỏng, tựa hồ không kham nổi, tính thế ẩn dấu chứ không lộ liễu, khí thế có ý tiếp thụ chứ không cương mãnh, như vậy là ngụ ý bậc quân tử, cũng gọi là nhược.

Tạ Giác Trai trong Đảo Trượng Thi viết: Hai chữ Âm Dương rất khó làm rõ. Mấy ai hay biết cái Tinh của tạo hóa. Âm nhũ giống như Dương vật của Nam. Dương oa giống như sản môn của người Nữ. Nếu hỏi ta trong địa huyệt, cái gì Cường hơn thì Cường chính là Âm, mạch tượng cương mãnh. Cường và Âm vốn sẳn một lý, sai một phân sẽ dẫn đến nguy hiểm.

Khoa Phong thủy chính là thuật xem tướng đất để chọn lành tránh dữ. Mà xem tướng thì buộc phải coi trọng về Hình Dáng bên ngoài. Cứ như lời dạy của các Tổ Sư Phong Thủy nêu trên, thì hể thấy Hình dạng mà đồ sộ, cương cường, sắc nhọn, lồi, cao thì y rằng là Âm Khí, ngụ ý tiểu nhân. Hể thấy Hình dạng mà lõm, thấp, bằng phẳng, nhu mì thì chắc chắn phải là Khí Dương, ngụ ý là bậc quân tử. Mới thoạt nhìn thì có vẽ như ngược ngạo, nhưng cứ quan sát thực tế thì rõ. Càng về phương Bắc càng lạnh, Âm khí càng nhiều thì núi non càng cao, càng cương cường bạo liệt. Càng về phương Nam, càng ấm nóng, Dương khí cùng khắp thì đất đai bằng phẳng nhu mì. Hay cứ thử quan sát hình dạng của nước thì thấy: Nước lạnh dưới Âm độ thì sẽ vón đông cục, đặc cứng. Tại Dương độ nóng ấm, Nước sẽ ở dạng lỏng chảy, nhu nhuyễn. Vậy thì, cho dù Phong Thủy là một hiện tượng văn hóa, quan niệm của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có thể mỗi nơi một khác. Thế nhưng, Âm Dương Hình Khí nhất định phải đồng nhất: Dương là ánh sáng, Âm là bóng tối. Hình của Dương thì lõm thấp, nhu mì, ngụ ý bậc quân tử. Những hình thể cao, nhọn, trông như mũi kiếm, khí thế cực kỳ cương mãnh ấy chính là Âm Khí, ngụ ý tiểu nhân.

Những gì nhọn, lồi, thoạt trông như mũi hoặc sống kiếm, khí thế cương mãnh mà đâm vào, thì chắc trăm phần là đã gặp phải đồ tiểu nhân. Vì vậy, những đòn dông của nhà hàng xóm nhọn hoắc đang chĩa thẳng, hoặc những Con Đường đâm vào nhà nào, thì y như rằng ngôi nhà ấy đang bị Khí Âm xung phạm. Xung phạm mà không hóa giải, lâu ngày người trong nhà sẽ gặp nhiều tai họa, hay hoặc bệnh tật triền miên. Hầu hết các sách Phong Thủy xuất bản gần đây, cho dù vẫn còn lẫn lộn giữa Hình và Khí, nhưng các tác giả lại đều có cùng một cách xử lý gọi là để hóa giải, là đề nghị treo một tấm gương ở gốc độ nào có khả năng phản chiếu lại đòn dông, hay con đường đâm thẳng, nhằm để xung tán và phản đẩy khí Âm trở lại. Gương này được gọi là Gương Phong Thủy.

Theo Lý Thời Trân, nhà Y Dược học đời nhà Minh thì Gương ngày xưa gọi là Giám, là vật để soi. Xưa, Gương làm bằng Đồng, nhờ kỹ thuật đúc Đồng của người xưa đã đạt đến mức tuyệt kỷ. Kỹ thuật tráng Bạc trên mặt phẳng thủy tinh, bằng cách xử dụng Nitrate bạc tác dụng với Muối kép trong môi trường xúc tác của Amoniac thì phải chờ đến cuối Minh đầu Thanh mới rộ. Thời Kỳ đầu, theo sách vở để lại, các thầy Lang dùng Gương đồng là để trị bệnh tà ma, nhiễm khí. Những tấm Gương bằng đồng cổ xưa còn lưu lại, đều có khắc chạm những đường cong Phù chú ngoằn nghèo, có tác dụng để chữa bệnh hơn là dùng cho Thuật Phong Thủy. May ra những tấm gương đằng trước ngực áo giáp của các Tướng Sĩ đời xưa thì có thể gọi là Gương Phong Thủy. Gương này được gọi là Gương Hộ tâm - Tâm đây là Tim - Không rõ những áo giáp có gương Hộ Tâm, khả năng làm cho địch quân khiếp vía vỡ Tim, hay là làm cho người mặc vững Tim mà chiến đấu không thì chưa rõ, nhưng chắc chắn chung quanh các chiếc gương Hộ Tâm cũng có những đường ngoằn nghèo của các loại Hoa Văn Phù Chú. Những Hoa Văn Phù Chú này, hệt như đường vẽ thực tế của núi sông, chắc chắn phải có một công năng khí cảm nào đó.

Hạt nhân của Khoa Phong Thủy là Khí. Căn bản của Khoa Phong Thủy là lấy sự hài hòa làm trọng. Âm đến thì dùng Dương mà hóa khí. Dương đến thì tìm Âm mà thành hình. Âm thì phải có Dương. Dương thì phải có Âm. Đủ Âm, đủ Dương thì vạn vật mới sinh thành, cho nên các nhà Phong Thủy rất coi trọng luật tham sinh kỵ khắc của tạo hóa. Đất đai, nhà cửa cũng như con người chỉ thích đi sinh chứ không thích đi khắc. Danh Y Hải Thượng Lản Ông để lại cho đời tập Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh cũng dạy nên Bổ chứ không nên Tả. Bổ Tim, Bổ Phổi, Bổ Thận...... kẹt lắm mới thấy thầy dạy Tả. Hình thức Tả nhanh gọn trong y khoa, là đưa ngay vào phòng mỗ mà cắt xén cái cụp, thì cũng y như khoa Phong Thủy dùng Gương để mà tán, là vì gương có tính phản quang, khả năng phân tán được những Khí xấu. Nhưng nếu Gương mà tán được Khí Xấu, thì xem chừng Gương cũng lại có khả năng phân tán được những Khí Tốt. Mặt khác, Gương chỉ có thể để tán, chứ Gương không đủ khả năng để hóa giải. Căn bản của hóa giải là dựa vào vòng tương sinh của Ngũ hành là Thủy sinh Mộc - Mộc sinh Hỏa - Hỏa sinh Thổ - Thổ sinh Kim - Kim sinh Thủy. Mức độ hóa giải lại tùy thuộc vào trình độ và kinh nghiệm tay nghề, nghĩa là phải cần Tinh lẫn Chuyên. Tán thì dễ mà Hóa Giãi thì khó. Cần phải cẩn trọng, phải phân tích được thua trước khi chọn giải pháp dụng Gương. Là vì, dùng Gương thì cũng y hệt như dùng dao hai lưỡi vậy.

Từ lâu, các chuyên gia trang trí nội thất đã biết là cần phải phối hợp với thuật Phong Thủy để sao cho kỹ thuật trang trí vừa đẹp mắt, vừa đem lại tốt lành cho gia chủ. Những năm gần đây, khoa Phong Thủy bỗng rộ lên tại các nước phương Tây. Một số nhà viết sách bén nhạy với thị trường, kịp thời tung sách dạy người trang trí nội thất theo quan niệm phong thủy. Lại cũng có một số tác giả viết sách dạy Phong Thủy theo quan niệm của kỹ thuật trang trí nội thất. Tác giả nào cũng có cố gắng hướng dẫn và giải thích rõ cho độc giả, cho nên sách nào cũng thừa hấp dẫn và có tính thuyết phục rất cao. Người đọc, chắc hẳn, rồi một ngày nào đó, sẽ dần dần đi vào mê cung, không còn phân biệt được sách nào là sách dạy Phong Thủy, sách nào là sách dạy người trang trí? Để giải thích tại sao người đời thường hay dùng Gương phản chiếu lại những cái đòn Dông, hay con đường đâm thẳng vào nhà, tất cả các tác giả đều cùng quan điểm là vì Gương có tính phản quang, khả năng đẩy ngược lại những Âm Khí đang hướng vào nhà, lâu ngày sẽ gây nên tai họa. Nhưng, cũng cùng tác giả lại lật ngược cho rằng nên dùng Gương để nhằm thu hút các hình ảnh bên ngoài tạo cảm giác chiều sâu, hoặc treo gương để tạo ảo giác về khoảng không gian mở rộng.
Có tác giả lại giải thích nên treo gương chung quanh phòng khách để vừa làm cho phòng rộng thêm ra, và làm tăng gấp đôi bàn ghế bày biện trong phòng. Lại cũng có tác giả đề nghị dùng gương treo trên vách bên cạnh hay đằng sau quầy tính tiền để quầy tiền được tăng gấp đôi tại các cơ sở thương mãi. Khi bị Âm Khí đang chĩa thẳng vào thì dùng Gương mà tán ra, nhưng khi kề cạnh quầy tiền thì dùng gương để thu hút hình ảnh, làm tăng gấp đôi lợi nhuận. Loại Gương có thể tự điều chỉnh gặp Tiền thì Thu vào, gặp hiểm họa thì Tán ra thì đích thị phải là: Gương Thần. Hèn chi người đời xưa đã sớm biết dùng Gương để chữa bệnh tà ma quỷ yếm? May mà khoa học càng ngày càng phát triển, có thể giải thích được tại sao những mũi nhọn của đòn Dông lâu ngày gây ra hiểm họa, nhờ vào các khảo sát Làn Sóng Ánh Sáng hay hiện tượng Sóng Vi Ba trong Vũ Trụ. Vả lại, tính phản quang của Gương là tính Thật trăm phần trăm, những hình ảnh xuất hiện sau Gương chỉ là ảnh Ảo hay chỉ là ảnh Giả mà thôi.

Tính phản quang của Gương là Thật. Ảnh xuất hiện trong gương là Giả. Bên thiệt, bên giả, đen trắng rõ ràng, phân biệt được đúng sai, để khi dùng Gương mục đích trang trí nội thất, để soi mặt hay dùng Gương cho Phong Thủy thì phải cẩn thận. Là vì, ngoài mặt giả của ảnh ảo, Gương còn mặt thật là phản chiếu và khả năng đưa rọi ánh Sáng. Dương là ánh sáng, Âm là bóng tối thì Gương phải đặt tại nơi Dương mới có thể đưa rọi ánh sáng sang được những chổ tối. Ngược lại nếu Gương được đặt ngay tại những nơi Âm hoặc những nơi tối tăm thì hoàn toàn vô ích. Trước khi đặt để Gương, cho dù để trang trí hay để soi rọi, thì trước tiên gia chủ phải biết trong nhà, chổ nào Dương, chổ nào thì Âm, chổ nào Tốt và chổ nào thì Xấu. Gương nhất định phải được đặt tại các chổ TỐT trong nhà, là vì Gương có khả năng phân tán cái Tốt rộng ra. Như vậy, treo gương ở phòng khách để làm rộng phòng khách thêm ra, là theo quan niệm của Trang Trí Nội Thất, chứ không phải của khoa Phong Thủy. Khoa Phong thủy chỉ đề nghị treo gương tại Phòng Khách nếu phòng khách đang tại vị trí Tốt trong nhà, nghĩa là đang tại Kiết Du Niên. Hay hoặc khoa Phong Thủy sẽ đề nghị đặt Gương sau quầy tính tiền, không phải để nhân đôi quầy tính tiền, mà vì chổ đặt quầy tính tiền thường đã được các nhà Phong Thủy cho đặt tại những Kiết Du Niên hay gọi là những chổ Tốt.

Cách đơn giản nhất là dùng la bàn đặt tại tâm của căn phòng hay căn nhà đang ở để định hướng của Cửa phòng hay Cửa nhà. Nếu Cửa của phòng hay Cửa của nhà nằm trong 4 hướng: Chính Đông, Đông Nam, Chính Bắc và Chính Nam thì 4 khu vực này là 4 khu vực Tốt. Khoa Phong Thủy gọi là 4 kiết du niên tại Đông, Đông Nam, Bắc và Nam. Trái lại, nếu Cửa của phòng hay của nhà nằm trong 4 hướng: Tây, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc thì 4 khu vực này mới là 4 khu vực Tốt của căn phòng, hay của nhà. Khoa Phong Thủy gọi 4 Kiết du niên là tại Tây, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc. Các nhà Phong Thủy đã căn cứ vào Hà Đồ và Lạc Thư của Dịch Lý, phối hợp với Ngũ Hành sinh khắc để giải thích: Phương Bắc hành Thủy. Phương Đông và Đông Nam hành Mộc, Phương Nam hành Hỏa. 4 phương này tương sinh là vì Thủy sinh Mộc và Mộc sinh Hỏa cho nên cùng là Kiết Du niên, nghĩa là 4 Khu vực này là 4 khu vực Tốt. Ngược lại, Phương Tây, Tây Bắc hành Kim và hai Phương Đông Bắc, Tây Nam hành Thổ. Ngũ hành thì Thổ sinh Kim, cho nên 4 phương Tây, Tây Nam, Tây Bắc và Đông Bắc cùng Kiết Du niên hay gọi là 4 khu vực Tốt là vì vậy.

Bây giờ mời quý vị đọc lại đoạn đầu để nhớ lại những lời của các tổ sư Phong Thủy dạy về Hình và Khí, về Dương và Âm, về Tiểu nhân và Quân Tử. Nhớ cách đơn giản nhất là dùng La Bàn để đo phương hướng. Trước hết, phải căn cứ từ hướng của Cửa phòng hay Cửa nhà mà định vị các kiết du niên, phân biệt Âm Dương, Hình Khí rồi mới dùng Gương phối hợp với mỹ quang của Khoa Trang Trí Nội Thất mà Tán hay để Soi, để Rọi. Nhưng, cách ngắn gọn và chính xác nhất là mời Quý vị tự phân tích, nhận xét lại hoàn cảnh và tình trạng kinh tế gia đình hiện nay:

- Gia đình, vợ chồng đang hạnh phúc, tiền bạc đang vào, con cái học hành càng ngày càng tấn tới, sức khỏe cả nhà đều được Tốt, thì quý vị hãy an tâm: Các tấm Gương treo trong nhà đã đặt đúng tại các Kiết Du niên, nghĩa là đã đúng tại các nơi đầy tràn khí Dương hay là đang tại những vị trí tốt lành.

- Ngược lại, gia đình mà vợ chồng xào xáo, con cái thích chơi hơn học, tiền bạc thâm thủng thiếu thốn, bệnh tật triền miên...... thì xem chừng quý vị đã đặt Gương ở những chổ trật lất, sai bét!

Những tấm Gương biết là đã đặt tại những chổ Sai bét, trật lất, thì xin Quý vị hảy tìm chổ khác mà dời ngay tức thời. Các ngài trang trí nội thất có khả năng thuyết phục mấy cũng không nên vội nghe. Là vì, những tấm Gương mà cứ tiếp tục treo hay đặt tại những chổ Sai bét thì chắc chắn trong tương lai, sẽ còn làm cho quý vị te tua nhiều hơn nữa!

Quảng Đức.

Chuông Ngân Đầu Cỏ

Chuông Ngân Đầu Cỏ

Quảng Đức.

Lạt Ma Pabongka Rinpoche có lần giảng về đoạn phát Bồ Đề Tâm cho các vị tu sĩ thuộc Hoàng Mạo phái:

“ . . .Nếu Bồ Đề tâm của bạn thuộc loại gượng gạo, thì bạn phải cố ý khơi nó dậy.
Tâm bạn sẽ không thay đổi đường hướng, nếu bạn chỉ đọc câu: Vì lợi lạc tất cả hữu tình..........mà không làm một chuẩn bị gì thêm.
Thay vì thế bạn nên bắt đầu, chẳng hạn: Tôi đã có được thân người thuận lợi.....
và chấm dứt như sau: Tôi sẽ giác ngộ vì lợi lạc cho tất cả hữu tình.”. . . . .

Thích Nữ Trí Hải đã dịch như thế trong tập Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay, Kim Cang xuất bản hơn 4 năm rồi mà đọc mãi cũng chỉ hiểu lờ mờ. Cho đến khi nhìn thấy được ông chủ nhà, vốn là tay thầu thiết kế xây dựng thức trắng đêm đứng chiên đủ 1500 cuốn Chả Giò Chay cho Nhóm Thiện Duyên kịp bưng ra nông trại bán. Nghe nói tiền lời rất bộn, cả nhóm thay vì chia nhau thụ hưởng thì họ lại gôm hết cả vốn lẫn lời gởi về Việt Nam phân cho kẻ khó người nghèo. Cứ ngỡ ông chủ nhà ít ra rồi cũng đạt quả chứng Thanh Văn hay Duyên Giác, nhưng theo lời giảng dạy của ngài Pabongka Rinpoche thì Bồ Đề Tâm ông chủ vẫn còn chưa đủ. Nếu Bồ Đề Tâm của bạn thuộc loại gượng gạo ? Ông chủ chịu đứng chiên chả giò chay nguyên đêm là vì muốn làm vui lòng bà vợ và lịch sự với các anh chị trong nhóm Thiện Duyên. Quả ông chủ nhà có gượng gạo thật nhưng bà chủ nhà và thành viên của nhóm thì hoàn toàn không !. Thế nhưng,. . . . . “Vì lợi lạc tất cả hữu tình mà không làm một chuẩn bị gì thêm” thì lại vẫn còn chưa đủ !

Và, có lẽ vì thế, họ rõ biết là họ phải cần làm một chuẩn bị gì thêm. Kỳ vọng của sự chuẩn bị là có đủ 10% tiền Down đặt mua cho được căn nhà tại mảnh đất 6 acres ở vùng Loundon County lập thành Tu Viện Tường Vân mà công tác từ thiện của nhóm Thiện Duyên vẫn không bị gián đoạn. Phật và các hóa thân chưa một lần chuyển Di Thực Chứng của các Ngài về Chân Như cho kẻ khác và các Ngài giải thoát hữu tình bằng cách giảng dạy giáo lý chân như, thì cho dù cả nhóm “nhất tự nhất bái” khẩn cầu Vô Lượng Phật gia hộ, hô phong hoán vũ biến tiền Mã thành tiền Đô đủ để vừa tiền Down cũng khó lòng thành tựu trong một sáng một chiều. Mười điều tâm niệm bất cứ Chùa nào cũng ghi rõ treo ngay những chỗ dễ nhìn thấy nhất. Ai vào cũng phải thấy, phải đọc. Việc làm đừng mong dễ thành... là một trong mười điều Phật dạy. Đừng mong dễ thành hoàn toàn khác với quyết tâm Phải Thành. Hình như nhóm Thiện Duyên đã rõ biết là việc không thể cầu mong dễ thành nhưng họ vẫn phải lại một lòng cầu mong......

“ . . . .Con đường nhanh nhất nói về sự quán tưởng trong phép quán quy y là hảy quán trước mặt là một bảo tòa khổng lồ có 8 con sư tử lớn nâng đỡ. Nếu quán tòa ấy quá cao thì tâm bạn bị trạo cử, quán nó quá thấp thì bạn sẽ bị hôn trầm. Cách lý tưởng nhất là quán tòa ấy ngang tầm với khoảng giữa hai lông mày bạn. Trên pháp tòa khổng lồ ấy có năm tòa nhỏ: Một tòa ở giữa, bốn tòa bốn bên đông tây nam bắc”. Có một sự trùng ngẫu: 8 con sư tử với 8 quẻ Bát Quái đồ hình, 5 tòa nhỏ với Ngũ hành sinh khắc ? Cách lý tưởng nhất là quán tòa ngang tầm với khoảng giữa..... nôm na mà hiểu là Trung quán thì lại trùng hợp với thuyết Aâm Dương của đạo Dịch và thuyết Hài hòa của Phong Thủy Địa Lý. Âm thì tìm Dương, Dương thì tìm Âm, Cao thì tìm thấp, Thấp thì tìm cao. Âm Dương Sáng Tối luôn luôn không tách rời được nhau. Có Nam, có nữ, có đực, có cái thì con người và sinh vật mới sinh sôi nãy nỡ. Có thấp, có cao, có Long, có Hổ thì đất đai mới có sinh khí đầy tràn. Từ trung tâm Eden Virginia cứ theo con đường 50 West đi mãi vừa vào địa phận Loundon County thì ghẹo trái gặp Braddock. Khu đất 6 acres cũng gần đâu đó. Từ tâm khu đất nhìn về phương Thìn thì thấy khí tụ. Thân Tí Thìn tam hợp Thủy cục. Ngũ Thường thì Thủy thuộc Trí- Thủy Trí mà làm nơi tu học thì thuận lợi vô cùng. Thủy Sinh Mộc, Mộc Sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy. Hình của Mộc phải dài, màu của Mộc phải xanh. Mới nhìn thì thấy Khu đất Thủy hành mà nhà hành Mộc. Thủy Mộc tương sinh, tương hợp. Nhìn kỷ thì có khác, nhà hành Mộc màu sơn đỏ chói Hỏa hành, Mộc sinh Hỏa sẽ bị tiết khí sinh xuất hao lực. Huyền võ là phía sau nhà lại tròn trịa hành Kim. Mộc sẽ lại bị Kim khắc chế. Lại thêm màu Đỏ hỏa hành và Kim hành cũng tương khắc. Lại còn từ Khôn hướng đòn dông nhà đằng trước lâu ngày tạo thành mũi nhọn tấn kích. Hại từ Khôn hướng thì Bà Mẹ và các Nữ Nhân trong nhà bất lợi. Đó là những lý do giải thích tại sao gia chủ không yên đành phải bán. Ngũ hành luôn luôn theo phép Tham Sinh Kỵ Khắc. Ngũ hành không sinh được thì ngũ hành sẽ đi khắc. Biết như thế để lưu ý Màu Đỏ hành Hỏa và nhà hình Dài hành Mộc; mặc dù tương sinh nhưng lại sinh xuất, tiết khí, bất lợi. Màu xanh đậm đen nước biển hành Thủy cứ thế mà phết vào thì Kim tham sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, nhà sẽ lại Tốt ngay. Đổi màu sơn quả thật dể dàng hơn là thức trắng đêm, chiên cho được ngàn cuốn chả giò chay. Còn lại cái hại từ Khôn Hướng ? Khôn Âm Thổ tham sinh Dương Kim. Kim màu trắng hình tròn. Oa Dương, Đột Âm. Dương khí dạng Lõm là Oa, Âm khí dạng Lồi là Đột. Hồ Sen dạng Lõm, hình tròn, màu trắng thì không là Dương Kim là gì ? Âm Thổ sinh được Dương Kim thì cái di hại từ Khôn hướng được hóa giãi. Tiền đặt cọc chưa đủ, lại còn phải chạy thêm tiền dựng hồ sen thì .....” Việc cũng đừng mong dễ thành....”. Là vì, theo lời Phật dạy: Dễ thành thì sẽ dễ sinh lòng khinh thường và kiêu ngạo.

Và, nếu như mua không được khu đất để xây dựng Tu Viện vì chạy không ra đủ tiền đặt cọc thì Sắc Sắc sẽ lẫn Không Không, có cũng như không, mà không thì cũng cứ coi như có. Bởi vì, ngay tại tâm thức của mỗi thành viên nhóm Thiện Duyên, trong quá trình tu hạnh tích lũy công đức và tịnh hóa bản thân thì Tu Viện Tường Vân cũng đã được xây dựng khổng lồ như một Bảo Tòa có 8 con Sư Tử nâng đỡ. Trên Bảo Tòa ấy lại có 5 toà nhỏ: Một tòa ở giữa, bốn tòa bốn bên đông tây nam bắc. Nhớ, cách lý tưởng nhất là .....ở giữa hai tầm mắt ? Cao quá thì Tâm sẽ bị trạo cử, thấp quá thì sẽ bị hôn trầm !

Nói cho cùng thì thế nào là thấp ? Thế nào là cao ? Mơ ước của Nhóm Thiện Duyên cao hay thấp thì chưa rõ biết. Chỉ biết chắc chắn rằng công tác thiện nguyện cứu giúp người nghèo, kẻ khó của Nhóm Thiện Duyên vẫn mãi còn phải tiếp diễn. Ông chủ nhà lại phải thức trắng nhiều đêm để chiên tiếp chả giò chay ! Chắc chắn là vậy ! Pabongka Rinpoche đã dạy và Thích Nữ Trí Hải đã dịch như thế!

.... . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Rồi một buổi sáng đẹp trời:

Nhìn nắng đọng sân chùa, khách có biết mấy lần dâu bể
Lắng chuông ngân đầu cỏ, người không hay một thoáng vô vi ?

Hai câu đối cho dù không trọn vẹn vì mất hai vế đầu mà đọc lên thì khách đến thăm chùa vẫn thấy lòng lâng lâng nhẹ như tơ trời, nồng nàn, vấn vương chi lạ. Không lẽ Tuệ Sĩ cũng đã nói như thế ?

Biết đâu ?


Quảng Đức

Nhà Thờ Họ Ðạo Các Thánh Tử Ðạo

Nhà Thờ Họ Ðạo Các Thánh Tử Ðạo
Qua mắt nhìn của thuật Phong Thủy


Quảng Đức

Từ Gwinnett County , Atlanta , tiểu bang Georgia, theo hướng N của Xa lộ 85 chaỵ mãi đến Exit 39 gặp Beaver Run Rd, vừa qua khỏi cây xăng thì nhớ quẹo vào Shackelford , khách sẽ thấy khu nhà đất rộng lớn nằm bên phía trái, xưa nay cứ ngỡ sẽ mãi là cơ ngơi Dealer nguy nga của hãng Chevrolet đồ sộ. Thế nhưng Cha Ðức đã khéo xoay sở đủ tiền mua đứt , đang sửa sang , xây dựng nhà Thờ Họ Ðạo các Thánh Tử Ðạo Việt Nam . Khách sẽ không ngạc nhiên khi phải nghe những xuýt xoa khen ngợi cạnh ít nhiều lời đàm tiếu . Chỉ mới mấy năm trước đây , tại tiểu bang Maryland , Cha Peter Long , suốt quá trình xây dựng Nhà Thờ Ðức Mẹ Việt Nam theo lối kiến trúc mái cong Âm Dương , biểu tượng tính hài hòa cổ truyền của Dân Tộc Việt, ngay cạnh Thủ Ðô HoaThinhDốn, cũng đã từng bị đố ky, thậm chí còn có kẻ gọi Cha là “ Ông Cha Ăn Mày” . Những kẻ chê bai đàm tiếu có thề họ đã ganh tị vì ghét . Cũng có thể họ là những kẻ đã thương Cha , nhưng rất tiếc, họ lại không hiểu được Cha . Khi viết về Ðức Cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận , Ðức Ông Phao lô Phan Van Hiền cũng đã viết : ” .........Tôi lại suy nghĩ về cuộc đời, về tình người, về những tráo trở, bấp bênh của dư luận. Xã hội ở bất kỳ thời đại nào và bất cứ ở đâu, cũng đầy dẫy những người hôm nay hoan hô Chúa Giêsu, vài hôm sau lại kết án ngài”. Họ chạy theo dư luận, thay đổi ý kiến như trở bàn tay....” Cha Ðức cũng sẽ không thoát khỏi lệ thường , chắc chắn Cha cũng có thể đã nghe ít nhiều dư luận khen chê , thậm chí có thể bị bêu xấu hoặc có thể bị vu khống . Thế nhưng, nếu Cha nhất định không bỏ dở hành trình , vẫn quyết tâm xây dựng Nhà Thờ Họ Ðạo Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam tại Atlanta để Georgia có thêm được một nơi đời đời thờ phượng Chúa , thì Cha cần phải nghe tiếp lời của Ðức Ông Phao Lô Phan Văn Hiền : “.......Vì thế , những ai muốn theo Chúa Giêsu một cách triệt để , phải biết bất chấp dư luận, để tiến bước theo Ngài “ . Và, ví dù như “ Cha có thể bất chấp được mọi chống đối, chỉ trích từ nội bộ cũng như từ bên ngoài “ thì Cha cũng lại cần phải cân nhắc , phân biệt đúng sai , trong một lãnh vực hoàn toàn bất ngờ đối với Cha:

Nhà Thờ Họ Ðạo Các Thánh Tử Ðạo
Qua mắt nhìn của thuật Phong Thủy.

Ngay từ thời thượng cổ , con người đã biết tìm đến những hang động hoặc những nơi che kín được GIÓ để làm chỗ ẩn nấp . Họ cũng đã biết tìm đến những nơi có sông suối để có Nước mà uống. Gió , Nước và Ðồi núi đất đai là 3 yếu tố chủ yếu của thiên nhiên đã không ngừng trực tiếp ảnh hưởng đến họa phúc của con người . Muốn sinh tồn và phát triển, con người phải biết thích ứng với thiên nhiên . Gặp phải những điều kiện quá khắc nghiệt, họ phải biết sửa sang, cải tạo lại thì mới có thể tồn tại . Phải trãi qua rất nhiều thời kỳ, những thế hệ sau mới rút tỉa ra được một số kinh nghiệm sống còn và chính những kinh nghiệm sống còn , truyền từ đời này sang đời khác đó, mới là mấu chốt căn bản cho Thuật Phong Thủy sau này. Ở đâu có Nước thì ở đó có Khí . Ở đâu có Gió thì ở đó Khí sẽ bị tán . Các nhà Phong Thủy xưa nay cho rằng Nước là mẹ của Khí. . Khí đến đâu thì Nước phải đến đó . Nước như Mẹ, Khí như Con . Mẹ với con như bóng với hình không hề tách rời được nhau . Phải vậy cho nên hầu hết những nền văn minh rực rỡ của nhân loại đều được gắn liền với tên tuổi của các giòng Sông ? . Các thành phố sầm uất, đô hội trên toàn khắp thế giới đều chắc phải được các con Nước cận kề . Paris có sông Seine , London có sông Thames - Washington DC thì có giòng Potomac tràn trề sức sống và ngay như Hà Nội, nếu không có Sông Hồng thì hàng ngàn năm trước đã không có Ðại La. và Lý Thái Tổ đã không dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Thành . Từ những kinh nghiệm thực tế đó, các nhà Phong Thủy đã rút tỉa ra được nguyên lý là Nước có thể biến Suy làm vượng . Nhìn lại vị trí xây dựng Nhà Thờ Họ Ðạo các Thánh Tử Ðạo Việt Nam tại Atlanta , có phải hướng Tây Bắc , Càn Cung là đồi Berkeley Hills và hướng Ðông Nam , Tốn Cung là Hồ Freeman Lake ? . Hai yếu tố thiên nhiên cực kỳ quan trọng này sẽ trở thành Long hay Hổ tùy vào Hướng chính của Nhà Thờ Họ Ðạo . Cũng phải nhờ vào hai yếu tố đó, mới khả thể xác quyết vùng đất đang được xây dựng nhà Thờ chắc chắn sẽ trở thành Vượng Ðịa ngay trong Vận 8 Hạ nguyên này.
Lý do:

1/. Vận 8 Hạ Nguyên kéo dài 20 năm, được tính kể từ 2004 cho đến hết năm 2023 . Vận này Phi Tinh Bát Bạch làm chủ . Hướng Tây Bắc của khu vực đang được xây dựng là nơi cư ngụ của Cửu Tử hỏa hành đang kỳ Sinh Vận thì Ðồi Berkeley Hills cao và dày đang tọa đúng hướng Tây Bắc Càn Cung

2/ Hướng Ðông Nam Vận 8 , Tốn Cung , là nơi Thất Xích đương ngự . Sao này đang thời Thoái Vận . Thất Xích chính lại là Phá Quân vốn là Sát Tinh , cho dù Thoái Vận, ở chốn vô hung vô cát , sao này vẫn có thể gây nên hung họa. Nơi nào Phá Quân dến thì nơi ấy Vượng cũng phải thành Suy . May gặp Freeman Lake đương tại hướng này , Nước Hồ Freeman chắc chắn có thể lật ngược biến vùng đương Suy thành Vượng.

Ngoài cách tính theo Huyền Không Pháp , các nhà Phong Thủy còn có thể căn cứ vào giòng chảy của Nước để khẳng định thế đất Tốt hay Xấu . Cứ nhìn vào bản đồ Gwinnett County của Georgia sẽ thấy giòng Bromolor Creek từ Berkeley Hills đương chảy về Ðông Bắc , đột nhiên đổi chiều, uốn khúc, vòng về Ðông Nam , rồi nhập chung với Beaver Creek, tụ vào Hồ Freeman tạo thành thế Hữu Tình Thủy . Giòng chảy mới đầu ngỡ như vô tình , ai dè quay lại ôm vòng vùng đất . Y như hình ảnh của người mẹ da diết ôm ru vào lòng cho con mình được ấm . Từ trung tâm của khu đất đang xây dựng, cứ nhìn thẳng , sẽ thấy Nước chảy thuận theo chiều kim đồng hồ . Nghĩa là Nước chảy từ trái sang phải , rồi tụ về phương Ðông Nam Thìn Tỵ . Thân Tí Thìn hợp cuộc. Toàn khu vực nhà đất Cha Ðức đang xây dựng Nhà Thờ Họ Ðạo các Thánh Tử Ðạo Việt Nam thuộc Dương Thủy . Âm thì tìm Dương. Dương thì phải tìm Âm mới đủ hai khí hài hòa . Khu vực đang xây dựng tọa trên đồi cao . Âm Cao mà Dương Thấp, thì có phải khu đất này đã đủ Âm Dương hai Khí ? . Nơi đây chắc chắn phải được Tốt lành.

Vùng đất tốt lành, đầy đủ hài hòa hai khí Âm Dương, sinh lực dồi dào như vậy sớm muộn rồi cũng sẽ trở thành một nơi đô hội . Vậy thì tại sao Dealer đồ sộ của một hãng Chevrolet khách xù lại phải bán chạy ? . Khoa Phong Thủy Ðịa Lý trú xứ xưa nay đều rất coi trọng hai quẻ Phản Phục . Phản Ngâm còn có xấu có tốt , chứ không may mà phạm vào Phục Ngâm thì sớm muộn rồi cũng sẽ phải bị trắng tay. Muốn kết luận một cơ sở làm ăn có bị phạm vào Phục hay Phản thì phải cần xem xét thực địa . Dealer của hãng Chevrolet đã dọn đi từ lâu cho nên hết còn có cơ hội . Tuy nhiên các dãy nhà trên khu đất vẫn chưa đập bỏ , con đường dẫn vào khu đất vẫn còn đó . Chúng ta có thể căn cứ vào các nét chính , tuy không đầy đủ , để có thể tạm rút tỉa ra được vài điểm cơ bản trả lời cho câu hỏi đã được đặt ra:

1/ Phải rơi đúng vào Vận 8 – Nghĩa là phải từ năm 2004 trở đi cho đến hết năm 2023, Khu vực này mới đầy tràn sinh khí. Nếu như khu này xây dựng cách đây không quá 20 năm , thuộc vào Vận 7 , có thể nhờ vào phương Tây Bắc , Bát Bạch thứ cát để có thể dùng . Phương Ðông Nam Lục Bạch thoài khí , vô cát vô hung, thì ít ra cơ sở này vẫn còn cầm cự , không đến nỗi phải chết tức tưởi . Không lẽ sao Thất Xích đương vận hành Kim bị sinh xuất hao khí vì đương tọa trên khu vực Thủy hành , cho nên Dealer Chevrolet đã làm ăn không được khá ?
Còn nếu như khu này được xây dựng đã quá 20 năm rồi, thì thất bại là đúng. Vận 6 Trung Nguyên , Lục Bạch nhập trung cung. Hai bên tả hữu là Thất xích với lại Ngũ Hoàng, gặp toàn Sát Tinh , toàn khu vực làm sao mà ngóc đầu cho nổi ? .

2/ Xa lộ 85 quá kề cận khu nhà xây dựng . Xe cộ quá tấp nập , vận tốc sáu bảy chục Miles một giờ , không ngừng tạo thành Gió cuốn , thì Khí ở nơi này liên tục phải bị Tán hao .
3/ Khu vực thuộc Thủy Hành Dương Cục. Dương Thủy trường sinh tại Thân, Vượng tại Tí và Mộ tại Thìn . Con đường dẫn vào khu vực khởi mở từ hướng Ðông Nam Thìn Tỵ . Ai đời cửa khẩu mà nhắm hướng Mộ Khố mà khai ? Toàn Khu vực sẽ không còn một chút sinh khí !

4/ Cửa ngõ mở vào từ hướng Ðông Nam hành Mộc . Hai bên là 2 dàn cao thế Hỏa hành . Mộc sinh cho Hỏa . Mộc bị tiết khí vì sinh xuất , thì Lực nếu có cũng phải bị tán tiêu.
Ðó chỉ mới vài điều cơ bản tổng quát , khách quan nhìn từ bên ngoài . Hoàn toàn chưa đề cập đến cách sắp xếp, bố trí phòng ốc, đặc biệt nơi đặt Cung Thánh và hướng của Bệ Thờ . Cha Ðức cũng nên cần phải phối luận lại với thực tế , để có cơ sở mà phân biệt chỗ nào tốt, chỗ nào xấu và chỗ nào là mê tín dị đoan cần phải bỏ ? . Từ đó Cha mới tìm ra được phương án tối ưu có thể sửa chữa và cải tạo lại địa lý trú xứ , để chắc chắn nơi này phải được trở thành tốt lành hơn . Khoa Phong Thủy có hai phép là Chế và Hóa , khả năng hoặc để hóa giãi, hoặc để triệt tiêu các hung họa do các điều kiện địa lý gây ra . Huyền Không Cổ Dịch cũng dạy người đời sau cách dụng Thủy Pháp vì Thủy có thể biến Suy thành Vượng . Ngược lại, Thủy mà không biết dùng thì cũng có thể vô tình biến nơi đương Vượng thành Suy.

Vẫn biết hạt giống Chúa đã gieo , có rơi vãi vào bụi gai , thì ngay trong bụi gai rậm đó vẫn xuất hiện những bông hoa Hồng đẹp . Nhưng dưới sự quan phòng của Chúa, Nhà Thờ Họ Ðạo các Thánh Tử Ðạo Việt Nam tại Atlanta chắc chắn phải là một trong những vườn Hồng tốt tươi mà Khoa Phong Thủy chỉ là kẻ thừa sai tưới vườn.

Quảng Đức

Phận Số của Giòng họ NGÔ

Câu chuyện PHONG THỦY
Và Phận Số của Giòng họ NGÔ.

Quảng Đức.


Thật khó tin được chuyện ông Thầy Địa một mình mà có thể dựng được cái rạp ngoài trời rộng thênh thang, đủ cho dân trong làng có nơi tụ họp 3 ngày Lễ cúng Khai Trương ngôi Đình. Ngay trước đêm khai Lễ, khu đất vẫn còn trống trơn. Dân làng chẳng thấy ông Thầy động tịnh. Không lẽ Ông Thầy Địa uy tín cùng khắp mà lại ra chiêu lừa bịp? Mà bịp hay lừa thì cũng chỉ làm mất uy tín, chứ Thầy ăn được cái giãi gì? Thì cũng có rất nhiều người gan cùng mình đã hỏi thẳng, gần như chất vấn, ra điều cự nự. Chỉ thấy ông Thầy cười ruồi phớt tỉnh. . . . . .

Lễ an vị Thành Hoàng? Hay là Lễ Kỳ Yên? Hình như còn một cái từ gì khác nghe kiêu hơn. Thôi thì nôm na bình dân cứ thế mà gọi Lễ Khai Đình cho dễ nhớ. Dân làng đại đa số làm nghề Nông, chân bùn tay lấm thì Lễ Khai Đình cũng là ngày Hội lớn. Trai gái, già trẻ đều bỏ đồng tập trung về dự . Buổi Lễ từng bước tuần tự nhi tiến, theo nghi thức và ngày giờ đúng như ông Thầy đã dạy. Trong Đền thì nhạc lễ, sáo kèn. Ngoài rạp thì tiếng trống, phèn la náo nhiệt. Dân làng vui như ba ngày Tết. Cùng khi đó thì tại làng bên, dân làng ai cũng bàng hoàng, ngẫn ngơ không sao hiểu được, mới đêm qua còn đó mà sáng tinh mơ , cột, kèo, mái, nóc ngôi chợ của làng bỗng nhiên biến mất? Thì ra ông Thầy Địa làng bên tạm mượn đem về làm rạp để cúng Khai Đình. Lý Trưởng của làng mất chợ một mặt tiến hành thủ tục trình Quan, một mặt cho thông báo tập trung trai làng, ngay ngày mai phải kéo hết sang làng bên nói chuyện phải quấy. Ai đời cả làng có một cái chợ để nhóm chiều mà lại cả gan. Kỳ này chắc chắn máu phải đổ. Đơn từ thầy ký còn đang soạn, trai tráng đang chuẩn bị gậy gộc, thì ô kìa, ngôi chợ mất tích, sau 3 ngày, lại về y nguyên ngay chổ củ.

Hồi đó, ngay cả người trong làng cũng không tin nỗi, thì nói chi thiên hạ bàng quang chỉ nghe kể lại? Đã trên 50 năm rồi còn gì? Có dịp về Bắc, tiện nhớ ghé tạt qua Quảng Bình, hỏi đường vào Làng Đại Phong, thuộc Huyện Lệ Thủy. Những Chức sắc của làng có mặt trong buổi Lễ Khai Đình năm đó đều đã bị đem ra đấu tố sau năm 54. Cộng Sản làm cỏ không chừa một móng. Khách thăm tìm gặp những người tuổi trên 60, hoặc con cháu của Chức sắc ngày đó. Họ cũng có thể kể lại được chi tiết vụ ông Thầy Địa. Chắc Thầy đã dùng Bùa Lỗ Ban mới khả năng sai được âm binh ban đêm gỡ chợ thiên hạ đem về làm rạp cúng Đình? Ông Thầy Địa chọn làng Đại Phong là vì theo Thầy thì Đại Phong linh địa chắc chắn phải có nhân kiệt. Con sông đào đời nhà Mạc cắt làng làm hai đã cố tình ngăn chặn Đại Mạch, không cho đất Đại Phong phát. Cho đến ngày nay, kể từ đời Nhà Mạc thì cũng đã gần 500 năm, mà hể mỗi lần vét sông, nước vẫn còn đổi màu hồng hồng, nhợt nhợt y như màu máu loảng. Đất này chắc chắn phải là Quý Địa phát ngôi Vương, nhà Mạc mới lo sợ, sai đào cắt đứt Đại Mạch phòng trừ.

Ngày xưa Vua Trung Tôn, đời nhà Đường, sai Cao Biền sang nước ta làm Tiết Độ Sứ. Cao Biền là người rất giỏi Địa Lý được vua Trung Tôn ủy nhiệm nghiên cứu các kiểu đất Việt Nam. Theo truyền thuyết thì Cao Biền tìm thấy thế đất nào có thể phát lớn là ra tay trấn yểm. Trước khi yểm, Cao Biền sai Đồng để các vị Thần cai quản khu vực đó nhập vào Đồng nam hay Đồng nữ rồi tìm cách trừ khử các vị Thần Linh đó. Cuối cùng Cao Biền mới yểm đất. Theo “Cao Biền Tấu Thư Địa Lý Kiểu Tự“ thì Việt Nam có 632 Chính huyệt và 1517 Bàng huyệt rãi đều khắp các Tỉnh Huyện. Hoàn toàn không tìm thấy có Đại Huyệt nào tại tỉnh Quảng Bình. Làng Đại Phong mà có Đại Huyệt phát Vương thì Ông Thầy Địa đời Nhà Mạc phải tinh, phải giỏi hơn Cao Biền một bậc. Sau gần 500 năm bị trần yểm, Đại Mạch đã bị cắt đứt mà khả năng nối lại, để đất lại thành Quý Địa phát Vương thì ông Thầy làng Đại Phong quả đúng là Sư Tổ nghề Địa, ăn đứt Cao Biền, có thể tranh hùng tranh bá, ngang cơ, kẻ chín lạng người mười phân với ông Thầy đời nhà Mạc!!! Thử hỏi đất trời mênh mông, toàn núi và rừng, bao la chi địa, thì biết chổ nào mà tìm ra được Huyệt? May mà Khoa Phong Thủy dạy chổ nào có Nước thì chỗ đó có Khí. Chỗ nào Nước dừng thì chổ đó Khí tụ. Như vậy, Cao Biền chắc chắn biết là phải xuôi theo các giòng sông lớn mới có thể tìm gặp được các thế đất kết. Hể thấy hai giòng Nước nhập lại thành một thì chỗ đó Khí phải tụ. Khí tụ thì Nước phải dừng. Trước khi dừng thì Nước thường có dạng uốn éo quanh co. Vậy thì hể chỗ nào nước có dạng quanh co, dùng dằng, lờ đờ như không muốn chảy, thì y rằng sắp đến chổ hình thành Huyệt vị.

Theo nguyên lý: Âm đến thì tìm huyệt ở nơi Dương. Dương đến thì phải tìm huyệt ở nơi Âm. Nguyên văn là: “Âm lai thì Dương thụ và Dương lai thì Âm thụ”. Hay, nơi cao thì Huyệt kết ở nơi thấp. Thấp thì Huyệt kết ở trên cao. Nhớ hể thấy hình của Núi non cao vút, gồ ghề thì đúng là nơi nhiều Âm Khí. Nơi bằng phẳng, nhu mì, lõm thấp là đúng là nơi Khí Dương nhiều. Cũng đừng quên hể thấy Nước đi bên Trái thì tìm huyệt ở bên Phải. Nước đi bên Phải thì nhớ tìm huyệt ở bên Trái. Đủ những yếu tố để Huyệt có thể kết rồi, thì lại phải tùy thuộc vào địa hình có hộ vệ, chở che cho Huyệt được ấm hay không mới có thể luận Huyệt kết lớn hay kết nhỏ. Núi non vốn Tỉnh thì lại Hay ở chổ Động. Gió Nước vốn Động thì lại Quý ở chổ Dừng. Quan niệm của Khoa Địa Lý Phong Thủy quả có nhiều trớ trêu, ngạo ngược . Lại thêm sách vở người xưa để lại cũng chỉ đề cập đến các Huyệt kết Công Hầu Khanh Tướng, Văn Khôi Khoa Giáp, Phú Quý Vinh Hoa....chứ làm gì có sách nào dạy người tìm Huyệt Kết ngôi Vương?

Ông Thầy Địa làng Đại Phong cho xây lại ngôi Đình ngay cạnh bờ con sông đào đời nhà Mạc. Bên trái là con đường làng. Đằng trước, mé phải , bên kia sông là ngôi nhà Thờ thônTây Hạ làm tay Hổ. Phía mé Trái là cái Đồi “Mụ Cỏn“ khá cao, chắc chắn phải là tay Long. Trước Đình hơi xa xa cũng có một cái đồi thấp hơn, chắc Thầy dùng làm cái Án. Phía đằng sau lẽ ra phải cao và dày thì chỉ thấy toàn đồng trống . Xa hơn nữa là cái đầm Lác rộng mênh mông. Cái Đình xây trên đất của thôn Hạ Đông, mà tay Hổ là ngôi nhà Thờ Tây Hạ thì chắc trăm phần, hướng Đình phải là Chính Nam. Địa hình như thế mà Thầy dám cam đoan là Đại Địa, là nơi "Thủy sơn kỳ diệu thống lãnh quần Mạch!". Thầy còn dùng Nhâm Độn cho biết ngôi Đình sẽ Kết! Thời gian Ngôi Đình đang Kết, Thầy sẽ chỉ cho Chức sắc trong làng thấy biết trên bầu trời “Sao nào đang thống lãnh quần Tinh“. Sau đó Thầy sẽ phối luận hai yếu tố Mạch và Tinh mà toán biết con cháu giòng họ nào trong làng khả năng sẽ "thống lãnh quần Hùng!". Ấy vậy mà không đầy một năm sau, ngôi Đình Kết thật. Nghe nói Mả Kết thì ban đêm trên Mả có phát chiếu luồng ánh sáng màu vàng vàng. Mấy người chuyên bốc Mả kể lại, hể gặp thấy cái màng y như Màng Nhện, có khi y như Mỡ Chài phủ trên hài cốt. Tùy theo màu, Trắng, Vàng hay màu Hồng thì biết được Mã Kết Văn hay Kết Võ, Kết lớn hay Kết nhỏ. Đình của làng Đại Phong Kết thì trên mái và nóc, rêu rong mọc lên xanh mướt như màu mạ non, ban đêm phát ra nhiều chấm sáng li ti, y hệt như đầu rêu đang lấp lánh phản chiếu ánh sao trời. Có đêm lại rừng rực, chớp chớp sáng như của hằng hà sa số đôm đốm tụ về.

Sau 54, đất nước chia hai. Phía Nam từ Vĩ Tuyến 17. Ông Diệm được dân bầu làm tổng thống. Chỉ cần nghe Ông Diệm là con cháu của làng Đại Phong là dân làng biết chắc Ông Diệm phải giòng họ Ngô. Thì ra mấy năm trước, ông Thầy Địa đã phán chắc như bắp, ngôi Đình của làng mà Kết thì con cháu họ Ngô trong làng sớm muộn cũng sẽ Thống Lãnh Quân Hùng! Hơn ai hết, *** biết rất rõ: Ngô Đình Diệm mà Thống Lãnh được Quần Hùng là nhờ vào Đại Phong Đại Địa. Mạch Tòng Hữu Kết chính là ngôi Đình, thì nhà Thờ thôn Tây Hạ phải là Hoa Khai Hữu Hổ. Ngay từ đầu, *** ra lệnh xơi tái, triệt hạ tức thì. Riêng cái Đồi Mụ Cỏn thì tạm phải bó tay, đành chịu. Không lý bài trừ Mê Tín Dị Đoan mà lại đi san bằng cái đồi ? Lại thêm, san bằng cái đồi thì dân làng lấy đâu mà ẩn mỗi khi Lụt về ? Càng ngày, cái ghế tổng thống của Ông Diệm có vẻ càng vững chắc, thì ruột gan *** càng rắm rối. Phải tìm cho ra một cái cớ để triệt hạ cho bằng được cái Đồi Mụ Cỏn Tinh Diệu Tả Long này mới yên. Mỗi lần mở đài theo dõi thì phải cứ nghe dân miền Nam hát:

"23 tháng 10 Bảo Đại, Dân truất ngôi.
Bầu Ngô Đình Diệm: Tổng Thống Muôn Năm"

thì càng làm cho *** tức điên người. Không lẽ còn cái đồi cỏn con mà vẫn còn được cái thế Long Tàng, xuất thế Anh Hùng, giữ được ngai vàng cho Ngô Đình Diệm? Chỉ cần gắn vào cái tên Cường Hào cũng đủ để đem ra đấu tố. Chụp thêm cái mũ Ác Bá là Bác cho đi tàu suốt tức thì. Tính ra cũng cả triệu người phải bị hành hình vong mạng, gia đình te tua, tan nát, mà Bác có thể làm dễ như trở bàn tay, thì xá chi cái Đồi Mụ Cỏn! Nhưng rồi cũng phải mất 3 năm, họ Hồ mới tính ra được độc chiêu ........

Họ Hồ quả là tay cực độc! Tại sao phải chỉ san bằng cái đồi mà không san bằng nguyên cả cái làng Đại Phong? Có vậy mà tính với toán. Chỉ cần Bác ưu ái rĩ tai cho một số cán bộ chủ chốt là Đại Phong cần tiên phong gia tăng diện tích ruộng cày, phấn đấu đạt Chỉ Tiêu Sản Lượng cao nhất Quảng Bình. Lệnh từ trên cứ thế mà dồn ép xuống. Gia tăng diện tích ruộng cày thì chỉ còn một cách duy nhất là phải di hết dân làng lên núi. Cần phải san bằng tất cả nhà cửa, vườn tược mới đủ chỉ tiêu diện tích gia tăng. Kế hoạch xóa sổ cái làng Đại Phong đang từng bước thực hiện thì đến tai Võ Nguyên Giáp. Cái Đồi Mụ Cỏn có tồn tại, hay đi đứt thì cũng chẳng chết thằng Tây nào. Chứ cái Làng Đại Phong mà bị san bằng thì nhà cửa cả giòng họ Võ cũng đi đong. Ai đời cái nhà mới xây to nhất làng. Mồ mả cả giòng họ Võ cũng mới đai tu mà đùng một phát, phút chốc trở thành ....Ruộng, thì Võ Nguyên Giáp còn khuya mới Nhất Trí! Kế hoạch đành phải tạm ngưng, nhưng cái Đồi Mụ Cỏn cũng đã được san bằng ! Họ Hồ ít ra cũng đã đạt được yêu cầu, cho nên: “Bác đồng ý, Nhất Trí với chú Giáp cho ngừng kế hoạch làm cỏ cái làng Đại Phong“ là vì Bác rất........... “thương dân“ !!!!!

Hè 63, miền Bắc hạn hán. Con sông chảy qua Tuy Lộc cạn thấy đáy, thì Con sông nhà Mạc chắc chắn phải khô không còn tí nước. Từ ngày Nhà Mạc cho đào con sông cắt đôi làng Đại Phong đến nay, dân trong làng chưa bao giờ nghe nói nước sông khô cạn. Chắc chắn phải co ù điềm xấu chi đây. Kinh nghiệm cho biết, vào khoảng giữa tháng Năm, nhất định trời sẽ làm mưa. Cơn mưa Tiểu Mản năm nay khá nặng hột, đủ để bù lại những ngày hạn hán. Mưa mới tạnh, đất vừa đủ thấm, thì Xã truyền mỗi Đội sản xuất tăng cường cho Xã chục công. Sáng sớm tinh mơ, xã viên tề tựu đủ, trang bị cuốc xẻng nhắm hướng núi, tiến theo sau bí thư xã. Cạnh bí thư xã là một cán bộ Tỉnh và một ông Tàu già khú đế đi không nổi, phải ngự trên võng, 4 người thay nhau cáng. Đến nơi, ông Tàu già cho cáng đi một vòng quanh núi rồi ra lệnh đào theo ông hướng dẫn. Trước khi đào, bí thư xã giải thích công tác đào giao thông hào để tránh bom, cần phải phấn đấu, hoàn tất khẩn trương. Đường đào bề ngang khoảng 6 tấc, sâu ngang ngực, quanh giáp vòng khu đất núi. May mà đất mới thấm mưa nên đào cũng dễ. Mà sao lại đào giao thông hào trên núi nhỉ? Hình như giữa khu đất laị có mấy cái Mộ bệ đá xi măng. Nhìn đám cỏ núi khá cao và dày như thế, chắc lâu ngày những ngôi Mộ bệ đá này thiếu người thăm. Trong làng ngoài giòng họ Phạm, trước đây nổi tiếng giàu, mới khả năng lập Mộ bệ đá ximăng. Nhưng đây đâu phải Mộ của giòng họ Phạm ? Trong làng họ Trần cũng đều khá giàu, lại thêm bí thư tỉnh ủy bấy giờ là con cháu của giòng họ Trần thì dễ gì Mồ Mã ông bà hàng năm vắng hương, vắng khói ? Thì ra đây chính là nghĩa trang của giòng họ Ngô Đình và ông Thầy Tàu đang bắt đào giao thông hào không phải để tránh đạn bom, mà chắc chắn là nhằm để cắt đứt Long Mạch .

Tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị phe đảo chánh giết chết làm sững sờ cả thế giới. Nhưng lại hoàn toàn không làm ngạc nhiên dân làng Đại Phong. Vì ít ra họ cũng đã nghe rĩ tai, xào xáo là Long Mạch mà bị cắt quá cận, quá gần như thế thì Đất sẽ mất hết sinh khí rất mau. Đất mà hết Sinh Khí thì Mạch sẽ không còn Kết Giao Hội Tụ. Con cháu giòng họ Ngô, trong vòng 3 tháng, sẽ hết được còn thống lãnh quần Hùng. Kể từ ngày ông Tàu già cho đào cái gọi là giao thông hào trên núi, tính đến ngày hai anh em Tổng Thống Diệm bị giết thì vừa vặn đúng 100 ngày. Như vậy là nhiệm vụ của ông Tàu già đã hoàn thành vượt bực so với mong ước của họ Hồ và câu chuyện Địa Lý Phong Thủy liên quan đến phận số của giòng họ NGÔ có thể tạm dứt. Ngặt là chính người trong số Xã Viên có mặt hôm đào lại cho rằng ông Tàu già khú đế chẳng phải người Hoa hay người Tàu, mà đích thực là Cả Đạt – Tay trùm sò Khoa Phong Thủy Địa Lý vùng Nghệ An, mà Cả Đạt lại chính là anh ruột của ***.

Cả Đạt trước là học trò của cụ Lê Văn Miến ở Nghệ An. Cụ Miến một thời là chánh đốc giáo của Trường Hậu Bổ. Sau là tế tửu của Trường Quốc Tử Giám Huế. Biết mình sắp mất, cụ Miến sắp xếp trước mọi việc và chính cụ truyền cử Cả Đạt được làm Chủ Táng. Mặc dù cụ Miến hơn ai hết biết rất rõ Cả Đạt là tay cuồng sinh, coi trời đất bằng vung, nhưng cụ biết Cả Đạt có tài. Năm đó là 1943, Cả Đạt toán Dịch luận đúng đích xác ngày và giờ Thầy mất, và tính biết là phải đúng giờ nào mới được hạ huyệt thì con cháu giòng họ Lê mới phát sịnh Công Hầu Khanh Tướng. Trước khi khai huyệt, Cả Đạt dặn rất kỷ là đào cho đến khi gặp được hòn đá trắng thì ngừng, không được phạm. Đúng như Cả Đạt đã phán. Huyệt mới đào chưa ngang ngực thì đã thấy xuất hiện hòn đá trắng. Giờ Hoàng Đạo đã điểm, nhưng Cả Đạt vẫn chưa cho hạ Huyệt. Cả Đạt nói là chờ thêm tiếng Sấm xuất hiện. Theo Cả Đạt thì Sấm thuộc Dương, Đất thuộc Âm. Âm Dương hòa hợp thì Khí mới được thông. Trong khi chờ tiếng Sấm đề thông Khí Âm Dương thì làng bên khai Hội. Nghe tiếng Trống sao mà dồn dập, đầy khí thế, Cả Đạt cho đó cũng chính là tiếng Sấm nên vội cho hạ Huyệt. Không ngờ lễ hạ Huyệt vừa mãn thì tiếng Sấm xuất hiện. Cả Đạt biết mình lầm, nhưng đã muộn.

Cũng đã gần 60 năm rồi, tính từ ngày cụ Miến mất, con cháu của cụ mặc dù phải tha phương nhưng cả đều khá giả, ăn nên làm ra. Có người cho rằng ngôi Mộ cụ Miến được táng trên thế đất Long Hoàn Hổ Bão, nhưng vì thiếu Âm Dương Giao Hội cho nên chỉ được Dư khí của Sơn Đầu, con cháu chỉ được Phú Quý Vinh Hoa. Chứ nếu Cả Đạt bình tỉnh, không vội vã, chờ đúng tiếng Sấm mới hạ huyệt thì Sơn Đầu sẽ nhận được Sinh Khí, con cháu họ Lê chắc chắn phải có Khanh Tướng hoặc Công Hầu! Sau vụ lầm tiếng Trống với tiếng Sấm, lo sợ khả năng di hại cho con cháu của Thầy, Cả Đạt thề không bao giờ đặt Mả cho ai. Bây giờ có người quả quyết ông Tàu già đi yểm Mả giòng họ Ngô chính là Cả Đạt thì lại cũng có thể nghi Cả Đạt mới là thủ phạm triệt phá Ngôi Đình của làng Đại Phong. Nhưng ngược lại, cũng có người cho rằng Cả Đạt cuồng sinh, sống ngang tàng, rày đây mai đó thì thằng em là *** cho dù là chủ tịch nước cũng dễ gì sai khiến được Cả Đạt? Lại còn, dưới mắt Cả Đạt, thì *** chỉ là thằng em nhiều ma mảnh, khôn lanh, không thực tài, còn khuya Cả Đạt mới chịu ngồi dưới trướng. Vì vậy, ông Tàu già yểm Mả họ Ngô không thể nào là Cả Đạt được.

Nội Thân thì Ngoại Thích. Nếu hai anh em của Ngô Đình Diệm là Nội Thân thì Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận có thể gọi là Ngoại Thích. Đình làng Đại Phong đã bị triệt hạ. Mồ Mả của giòng họ Ngô bị yểm, Long Mạch đã bị cắt, mà Ngoại Thích của giòng họ Ngô Đình vẫn còn lên đến Hồng Y thì xem chừng Đại Mạch chỉ mới bị cắt bên Tả Khí. Hữu Khí đang còn Sinh Huyệt thì kể từ năm Giáp Thân 2004, bước sang Vận mới của Hạ Nguyên. Bát Bạch nhập trung cung, lại gặp Năm Dương, Thiên Tinh chuyển thuận, Đất có thể Hoàn Hồn. Con cháu của họ Ngô vẫn lại còn có nhiều cơ may. . . . . . . . . . . .

Quảng Đức

Cây Thước Lỗ Ban

Chuyện Địa Lý Phong Thủy:
Cây Thước Lỗ Ban

Quảng Đức.

Lịch Sách Xuân Ât Mẹo 1975, Chiêm Tinh Gia Huỳnh Liên có viết về cây Thước Lỗ Ban và dạy cách sử dụng. Theo Thầy thì cây Thước có độ dài nhứt định là 5 tấc 3 chia cho 8 cung lớn. Mỗi cung lớn 6,5 cm lại chia thành 5 cung nhỏ, mỗi cung nhỏ dài đúng 1 phân. Thầy dặn dò kỷ là nếu quý bạn đọc đã có nhà cữa xây cất xong lấy thước đo thấy xấu thì sửa lại. Bằng như chưa cất nhà muốn đo cửa tốt thì lựa cung tốt mà làm khuôn cửa đúng ni tấc thì được mỷ mãn hơn. Khi đo bắt đầu đặt cây thước vào mí của mép cửa bên trái rồi đo lần sang mép cửa bên mặt. Luôn luôn phải đặt cung số 1 tức cung Quý Nhơn nằm phía tay trái, rồi đo lần qua tới chổ nào thì coi lời giải mà biết tốt hay xấu, đó là cách đo cửa nhà đã xây rồi. Nếu chưa xây cửa, thì quý bạn đo tới chổ cung nào tốt và hạp nhất thì dừng lại và ấn định cửa tới nơi đó sẽ xây. Quý bạn đọc nào lở xây cửa xấu, không đúng với thước Lỗ Ban nên tìm tới Thầy để Thầy chỉ dẩn cho cách cúng quảy sửa chữa lại để gia đình làm ăn phát đạt.
Mấy năm trước đó có nhiều gia đình thỉnh Thầy đến đo cửa đo nhà, ít lâu sau quả làm ăn phát đạt thật. Danh của Thầy nổi như cồn, khách hàng xếp lớp. Có người cho rằng Thầy có Bùa thiêng, cũng có người cho rằng Thầy nhờ có cái Thước Lỗ Ban Bát Trạch. Biết được Thầy có chỉ vẽ cách làm Thước Lỗ Ban thì cuốn Lịch Sách Xuân Aùt Mão được rất nhiều gia đình mua về làm tài liệu tham khảo và cũng đã có rất nhiều ngườiõ theo đúng hướng dẩn cuả Thầy mà làm Thước Lỗ Ban. Không hiểu tại Thầy dấu nghề hay do ngẫu nhiên trùng hợp mà không ít gia đình sau khi có cái thước Lỗ Ban trong tay là ngay mùa Xuân năm đó phải bỏ nhà cao bay xa chạy ra nước ngoài, một số khác vào trại tập trung cải tạo mút mùa, số còn lại thì cũng phải bỏ nhà bỏ cửa để đi kinh tế mới. Về sau biết được hoàn cảnh của Thầy cũng bi đát như khách sau ngày 30 tháng 4, cho nên không ai còn dám nghĩ là Thầy dấu nghề, mà cho rằng đó là do ngẫu nhiên trùng hợp mà thôi. Thế nhưng khi đem 5 tấc 3 chia cho 8, số thành là 6 phân 5 ly và đem 6 phân 5 ly chia cho 5, số thành là 1 đúng như hướng dẫn của Thầy thì quả thực sai số quá lớn. Cung này cách Cung kia cách nhau chỉ bằng sợi tóc mà sai số lớn như thế thì cái Thước Thầy hướng dẫn làm sao mà linh thiêng cho đặng ? Cho rằng lỗi tại nhà in, cây thước phải dài 5 tấc 2 mới đúng. Thì cứ coi như là 5 tấc 2, nhưng lấy độ dài này chia cho 8 rồi lại chia cho 5, số thành đúng 1 phân, thì cũng lại vẫn còn sai !

Ngay từ đời nhà Chu ( 257 năm trước Tây Lịch) cùng thời với triều đại Thục An Dương Vương nước Việt, con người đã biết dùng Chỉ và Phân theo hệ thống Bát Phân để làm đơn vị đo chiều dài. Một Chỉ dài 0,408 mét, có 8 Phân thì một Phân là 0,051 mét. Về sau từ con số đơn vị của Phân là 0,051 nhân cho 10 theo hệ thống Thập Phân thành con số 0,51. Cái thước dài 0,51m hay 51 cm lâu ngày trờ thành cái thước Lỗ Ban đồng hóa với tà thuật của các Thầy Bùa, Thầy Pháp. Mãi cho đến hơn 2000 năm sau, các nhà Thông Thái Sinh Cơ Lý Học mới giật mình bái phục khi tìm ra được Tần số của ngoại âm là 4,9 từ đó suy ra đơn vị Thời Gian là 1 sec / 4,9 = 0,20408. Biết được đơn vị Thời Gian, các nhà Toán Học tính ra được Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu là 40,8 bằng cách lấy 980 nhân với bình phương của đơn vị thời gian: 0,20408. Con số 0,408 chính là đơn vị Chỉ của nền Văn minh Thái cổ cũng chính là Gia Tốc Trọng Lực ở mặt địa cầu tương đương với 2 lần trị số của đơn vị thời gian. Như vậy, cái thước mà người đời nay cho rằng đó là cái thước Lỗ Ban huyền diệu, mang nhiều sắc thái bùa phép, người đời xưa sử dụng để đo đạt có độ dài là 51 cm, phát xuất từ cơ sở tính toán khoa học của các nhà Khoa Học Thái Cổ. Mê tín dị đoan hay bác học thì lại tùy vào thái độ và trình độ của người sử dụng. Người mê tín thì cho rằng cái thước chính là chiếc gậy Thần Linh hiễn. là vì ít ra, sau khi đo đạt sửa chửa theo đúng hướng dẫn thì gia chủ có nhiều an tâm, hy vọng nhiều hơn, bớt được căng thẳng, giãm được ưu tư thì có thể né tránh được nhiều tai biến hậu quả có thể chết người. Người bác học thì cho rằng cái thước chỉ là phương tiện để đo đạt chính xác mà thôi. Theo lý thuyết về năng lực bá động thì các loài sinh vật luôn luôn chịu ảnh hưỡng của các làn sóng từ cấp thấp nhất là ngoại âm đến cấp cao nhất là siêu âm đặc biệt là làn sóng ngoại âm phát ra từ lòng đất là nguồn năng lực chi phối đời sống con người qua cơ sở vật chất là nhà cửa của họ. Theo tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư – Phần Dương Cơ Lý Học thì nhà cửa luôn luôn được xây dựng trên một nền cứng chắc và đủ rộng để chịu được toàn bộ trọng lượng của cái nhà. Sự liên kết của các nền nhà thành một khối chung sẽ tạo thành một tảng. Hỉnh thức thông thường của tảng là một lớp nền mỏng trải dài trên một vùng đất xốp, mềm, có thể so sánh với một thanh gổ trên mặt nước. Lòng đất luôn luôn phát ra làn sóng ngoại âm là hình thức nhỏ của địa chấn, cho nên tảng phải chịu ảnh hưởng và trở nên một tảng rung động. Trong sự rung động này có sự cộng hưỡng. Sự truyền làn sóng và sự phản hồi làn sóng tạo nên một hệ thống sóng đứng mà hai đầu tảng là hai đầu tự do tạo thành hai bụng của thoi sóng đứng. Ở chính giữa gọi là Nút không rung động giống y như hình ảnh của thanh gổ dài nhấp nhô hai đầu. Ngoại âm của đất có nhiều làn sóng tần số khác nhau và mức độ cộng hưỡng tùy sẽ thuộc vào độ dài, độ dày và độ rắn chắc của tảng, nhưng thường thì độ dài quan trọng hơn. Tảng dài thì có nhiều Nút và nhiều Bụng là vì một tảng dài rung động thì sẽ tạo xen kẻ thành nhiều Bụng và Nút . Mỗi vị trí này được gọi là Tọa Vị. Theo như tác giả tập Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư , nếu tọa vị là Bụng thì gọi là Tọa Vị Dương là nơi có sự rung chuyển cao độ. Nếu Tọa Vị là một Nút thì gọi là Tọa Vị Aâm là nơi sự rung động hầu như không có.
Cây thước Lỗ Ban 51 cm được chia thành 8 cung bằng nhau. Mỗi cung lại chia thành 5 cung nhỏ. 8 cũng có thể là con số của Bát Quái và cũng là thứ tự của hàng đơn vị từ 1 đến 8 thuộc hệ thống Bát Phân . 5 cũng có thể là Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hoả , Thổ.

- Cung đầu tiên là Quý Nhơn Cung hành Mộc là cung Tốt .
- Cung thứ 2 là Hiểm Họa Cung hành Thổ là cung Xấu.
- Cung thứ 3 là Thiên Tai Cung hành Thổ là cung Xấu.
- Cung thứ 4 là Thiên Tài Cung hành Thủy là cung Tốt.
- Cung thứ 5 là Nhơn Lộc Cung hành Kim là cung Tốt.
- Cung thứ 6 là Cô Độc Cung hành Hỏa là cung Xấu.
- Cung thứ 7 là Thiên Tặc Cung hành Hỏa ( Kim ? ) là cung Xấu.
- Cung thứ 8 là Tể Tướng Cung hành Thổ là cung Tốt.

Riêng cung Thứ 7 có sách cho rằng hành Hỏa (Thất Tai Hỏa cục), nhưng cũng có sách thì cho rằng hành Kim (Thất Tai Kim cục). Xem kỷ lại thì cung này cũng là cung cư ngụ của sao Phá Quân.. Trong Tử Vi sao Phá Quân là Bắc Đẩu Tinh hành Thủy là Hung và Hao tinh chủ tán, nhưng trong Bát Biến Du Niên của phép địa lý Dương Trạch thì khẳng định Phá Quân hành Kim là chốn cư của Tuyệt Mạng cũng vốn hành Kim. Khoa Địa Lý cho rằng Sao Phá Quân nguyên là hành Kim mà cái Thước Lỗ Ban chỉ dùng cho Khoa Địa Lý cho nên có thể khẳng định được Thất Tai Kim cục có lý hơn là Thất Tai Hỏa cục. Theo hệ thống Bát Phân từ 1 cho đến 8 là số cuối của hàng đơn vị thì Cung thứ nhất và cung thứ 8 chắc chắn phải là 2 Bụng tức là 2 tọa vị Dương. Hai cung ở giữa là cung thứ 4 và thứ 5 là hai cung Tốt cho nên cung 4 và 5 cũng phải là 2 Bụng tức cũng là 2 tọa vị Dương. Còn lại là Hai Nút sẽ ở tại giữa cung 2 – 3 và giữa cung 6 – 7 vị chi tất cả là 4 Tọa vị Âm. Sự phân chia 1 thành 2, 2 thành 4, 4 thành 8 chắc chắn bắt nguồn từ Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mấu chốt của Thái Cực sinh Lưỡng Nghi- Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng – Tứ tượng sinh Bát Quái. . .

Như vậy, cây thước Lỗ Ban là Khoa Học hay Mê Tín, Dị Đoan?, Pabongka Rinpoche tại trang 169 Trong tập Giải Thoát trong Lòng Tay, Kim Cang Xuất Bản năm 1995 có dạy:

Kẻ ngu biết mình ngu, đích thị là hiền trí.
Ngu tự cho mình trí, mới thật là chí ngu.

Thích Nữ Trí Hãi đã dịch như thế !

Quảng Đức.

Chuyện Phong Thủy Xưa Nay

Chuyện Phong Thủy Xưa Nay

Quảng Đức

Khơng phải chờ đến thế kỷ thứ 21, sách Phong Thủy mới tràn ngập thị trường. Là vì sách nào cũng đầy lý lẽ, cũng tự cho là bí truyền chính giáo, cho nên người đọc tối tăm mày mặt, khĩ phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai. Từ thời Tam Quốc, ngay cả 100 thiên trước tác của Quản Lộ, Tổ sư của thuật Phong Thủy, cũng phải bị nghi ngờ là rởm giả, khơng đáng tin, vì đã cĩ quá nhiều tác giả giả danh. Dương Quân Tùng, Hình phái Đại sư đời Đường , từng là Quốc sư thời Đường Hi Tơng , gặp loạn phải chạy về Tràng An thì sách Phong Thủy giả tên ơng được rao bán đầy khắp tại Sơn Tây. Lại Bố Y, thầy địa trứ danh đời Tống cho dù đã từ quan, phiêu bạt giang hồ , lênh đênh khơng nhà khơng cửa, khơng màng đến bút nghiên, mà sau khi chết hàng trăm cuốn Phong Thủy giả mạo bàn về long huyệt sa thuỷ, lại ghi rõ người soạn là Tiên tri Sơn Nhân, đúng biệt danh của họ Lại. Ngay cả Lưu Bá Oân, bậc thầy về thần cơ diệu tốn, nhân vật để lại nhiều dấu ấn nhất trong lịch sử khoa Phong Thủy, dù chưa từng ghi chép một điều gì về thuật Phong Thủy, mà sau khi mất, dân gian vẫn thấy rất nhiều sách của Lưu Cơ lưu hành trên thị trường.

Dưới thời Tống Huy Tơng, đặc biệt vào thời Tống Nhân Tơng, mặc dù các học giả đã bắt đầu bàn bạc, nghiên cứu thuật Phong Thủy, tiêu biểu là Hàn lâm học sĩ Lý Tư , nhưng việc ghi chép thì cũng chỉ vẫn do các Thầy Phong Thủy. Một số học giả quan tâm viết, thì lại giấu biệt, khơng dám đề tên thật. Thời bấy giờ, các học về thuật số vẫn cịn bị người đời coi rẻ. Đã là học giả, đại phu mà lại đi viết về thuật Phong Thủy thì coi sao được, xấu hổ chết . Bước qua các triều đại Minh, Thanh, thuật Phong Thủy rất thịnh hành. Vua, quan triều đình cho đến dân chúng đều rất chuộng thuật Phong Thủy. Lúc này, các học giả mới thực sự để tâm ghi chép. Khơng như dưới các triều Đường, Tống, các tác giả đời Minh ,Thanh viết sách về Phong Thủy phần lớn đều đã dám đề tên thật. . Ngặt nỗi, đại đa số tác giả viết về thuật Phong Thủy, lại là những tay bị trượt rớt ở trường thi. Thời bấy giờ, hể thi rớt là về...... đuổi gà, người nào khá lắm thì về làm nghề gõ đầu trẻ. Vì vậy, dù viết để được cái lưu danh, thì họ cũng vẫn cịn mang nặng mặc cảm. Họ thường dùng lời văn bỡn cợt, trêu chọc, để chứng tỏ ta đây bác học, khơng dị đoan, mê tín; đồng thời là để che dấu khả năng kém cỏi, thiếu kinh nghiệm trong nghề. Một số tác giả am tường, thì lại bị mang nặng cái bệnh giấu nghề truyền kiếp. Học thuật của thánh hiền ngày xưa để lại bị mai một dần. Trình độ của thánh hiền, theo ngày tháng, thì rồi dần cũng chỉ ngang bằng trình độ của người viết sách. Đúng ra, cũng đã cĩ rất nhiều sách Phong Thủy được viết rất nghiêm túc, thì lại bị liệt vào loại Cấm Thư, chỉ dành cho các vương tước trong bảo điện. Đã là cấm thư, hồn tồn khơng phổ biến thì làm gì mà phổ cập đến dân đen? Người muốn nghiên cứu khoa này , may mắn vớ đọc đúng sách viết nghiêm túc đi nữa, thì cũng chỉ học được cách tầm long trĩc mạch , cao minh lắm cũng chỉ tìm học được thế huyệt phát Trạng Nguyên, hay là thế huyệt phát cự phú, chứ làm gì học được những các thế huyệt phát ngơi Vương ?

Vơ tình vớ đọc bài thơ : Quân giải phĩng đánh chiếm Nam Kinh của Mao Trạch Đơng thì mới rõ té ra họ Mao cũng biết đến cái thế Hổ cứ Long bàn, cũng biết tận dụng cái thế kề núi, dựa sơng. Vậy là họ Mao cũng là tay say mê thuật Phong Thủy. Nhưng khi thâu tĩm được xã tắc, thì chính họ Mao cách mạng văn hĩa, ra lệnh đốt hết sách. *** cũng từng nghiên cứu khoa Phong Thủy, từng học Địa Lý cùng thầy với người anh ruột một thời trùm địa lý vùng Nghệ An, tên là Cả Đạt. Nhưng ngay khi nắm được quyền lực trong tay, thì cũng học theo Mao cải cách văn hĩa, lại cũng ra lệnh thu đốt hết sách , gọi là để triệt phá tàng dư mê tín. Thuật Phong Thủy ngỡ như đã bị rực lãng vào hư vơ. Bỗng dưng, những năm gần đây, sách Phong Thủy lại tràn ngập trên thị trường. Người Trung hoa cho rằng thuật Phong Thủy vốn là tinh hoa lý luận kiến trúc của riêng Trung hoa từ thời cổ đại. Tuy vẫn cịn xếp khoa Phong thủy vào loại thần bí. nhưng họ nĩi lật lại : Phong thủy là một tín ngưỡng, cĩ cơ sở tâm ly,ù đã bám rễ chắc chắn trong lịng người dân của họ. Chính quyền Bắc Kinh cũng đã mới chính thức đưa giáo trình vào giảng dạy taị một số trường Đại học lớn trong nước. Trong khi Hà Nội lại cĩ tham vọng cao hơn là cố dần đưa các cơng trình này vào chiến lược giáo dục tổng hợp cho một xã hội tồn cầu, và cho đĩ là thành tích để chào mừng thế kỷ 21.

Tìm đọc một số sách thuộc loại thần bí do HàNội xuất bản bày bán trên thị trường trong những năm gần đây, thì thấy hầu hết đều là sách dịch lại của các tác giả Trung quốc đương thời. Số cịn lại là do một số tác giả lấy râu ơng này, cắt đầu xén đuơi, cắm sang cằm bà nọ, xào nấu hằm bà lằng, viết thành sách. Người nào khơng may vớ được , vội vã ngốn đọc thì sớm muộn cũng bị tẩu hỏa nhập ma. Xưa nay ai cũng biết là Khoa Phong Thủy bắt nguồn từ Dịch lý, màø Dịch thì lấy Aâm Dương làm trọng. Muốn nghiên cứu để biết tường tận thuật Phong Thủy, lỡ dại đọc nhằm mấy tập viết đảo ngược Aâm thành Dương, Dương thành Aâm mà chỉ bị tẩu hỏa nhập ma thì coi như là cịn may mắn lắm. Khơng tin thì cứ thử tìm đọc bộ Địa Lý Tồn Thư - Bộ này gồm 3 tập – Khoảng trên 1000 trang - Do Nhà Xuất Bản Thơng Tin Hà Nội xuất bản tháng 7 năm 1996 - Bộ sách này bình giải văn hĩa thần bí căn bản và tương đối đầy đủ các tác giả nhất - Chỉ cần đọc kỷ trang 81 tập III là trang mấu chốt, luận bàn về Aâm Dương thì mới thấy cái luận ngạo ngược vơ cùng – Aâm mà luận lộn thành Dương, Dương mà luận đảo thành Aâm. Aâm Dương đảo lộn , người học mất hết căn bản rồi thì sao mà biết phân biệt đoạn nào thì đúng, đoạn nào thì sai ? Câu nào sẽ khơng bị đảo và chữ nào thì sẽ khơng bị lộn ?. Từ cái căn bản đảo lộn Aâm Dương này, một số tác giả trong nước trích dẫn, xào nấu lại viết thành sách bày bán trên thị trường, để cho hậu thế tham khảo, thì khơng chừng họ Mao ra lệnh đốt sách như vậy mà lại đúng ! Sàng lọc cho thật kỷ, may mắn mới tìm ra được một hai tập viết nghiêm chỉnh, thì tập của tác giả Nguyễn Hồng Phương cĩ thể được xem là cơng trình sáng giá và nghiêm chỉnh nhất. Thế nhưng, trong suốt 68 chương, chia ra làm 5 tập, tổng cộng gần 1200 trang , thì chỉ cĩ 7 chương viết về Phong Thủy . Phải thừa nhận giáo sư Phương uyên bác bậc thầy, chỉ tiếc là riêng phần Địa lý Phong Thủy thì thầy cũng chịu bí, cũng phải sao lục viết lại của người xưa. Dù rất cĩ khả năng tốn học, cĩ học vị tiến sĩ, mà bàn về Phong Thũy, thầy cũng đành bĩ tay chào thua. Trong suốt 100 trang viết về Địa Lý Phong Thủy, hồn tồn khơng thấy thầy dụng được một tốn thuật nào để giải thích rõ thêm cho người học. Khác với tập của Nguyễn Hồng Phương, thì Bộ Thái Cổ Khoa học Tồn thư– đặc biệt phần viết về Dương Cơ – nhất là phần Sinh Cơ Tốn thuật Aùp dụng – từ đầu đến cuối, người viết hồn tồn dụng tốn để chứng minh , giải thích, hướng dẫn rõ ràng. Chỉ tiếc là Bộ Thái Cổ học Tồn thư, vẫn cịn trên bản viết tay- người viết lại cịn dấu biệt tên thật , chỉ thấy tự xưng là Bổn Sơn Nhân . Thử trích một đoạn tác giả mào đầu của chương khái luận về Dương Cơ Lý Học,: “ .....Với mục đích hồn chỉnh học thuật của nhân gian và đã phá những sai lầm về tà đạo, Bổn Sơn Nhân biên soạn tập này theo lối tân học, để các độc giả đã sẳn cĩ căn bản khoa học cận đại hiểu rõ được khoa học tính của bộ mơn dương cơ lý học, ngõ hầu giúp cho độc giả khỏi bị lừa bịp bởi các tay đạo sĩ nửa mùa , và tự mình tìm hiểu thiên nhiên mà tự vạch ra địa bàn thích nghi nhất cho cuộc sống của mình.......” Chỉ cần mới mào, người đợc cũng đã thấy nhiều hấp dẫn và may là tập này chưa bị lộn lẫn với các sách Phong Thủy tạp nhạp bày bán trên thị trường hiện nay.

Trong nước , tác giả của Bộ Thái Cổ Học Tồn Thư đã ẩn danh khơng tính, thì tác giả Nguyễn Hồng Phương được xem là sáng giá và người đọc sách Phong Thủy do ơng viết cĩ thể an tâm . Xê xích trước sau vài năm, ở nước ngồi, xuất hiện một số tác giả tên tuổi chuyên viết về Phong Thủy như Khổng Trọng Hinh, Đồn văn Thơng , Nguyễn phước vĩnh Tung,..... Tác giả Vĩnh Tung thì mới xuất hiện đâu 3, 4 năm trở lại , nhưng Đồn văn Thơng thì trước Nguyễn Hồng Phương. Khơng như Nguyễn Hồng Phương, cả 3 tác giả đang tại ngồi nước đều chỉ viết sâu về Dương Trạch, chưa thấy tác giả nào viết về Aâm Trạch và như thế thì trừ tác giả tập Bộ Thái Cổ Học Tồn Thư, cả 4 tác giả tên tuổi từ trong cho đến ngồi nước, chưa thấy cĩ tác giả nào dụng được các phép tốn để chứng minh tính khoa học của khoa Địa Lý Phong Thủy. Riêng tác giả Khổng trọng Hinh sau một loạt bài Phong Thủy tại xứ người, tên ơng vừa rộ lẫy lừng thì lại khơng thấy ơng xuất hiện nữa. Rất nhiều độc giả ham mộ tên ơng, thật ra chưa chắc là vì họ ham mộ thuật Phong Thuỷ , nhưng chắc là vì ơng cĩ văn tài, ơng viết về Địa Lý Phong Thủy sao mà nhẹ nhàng, trơn tru, hấp dẫn, y như Kim Dung viết truyện kiếm hiệp. Cĩ tin đồn là sau khi tạo được uy tín cùng khắp trong lãnh vực Địa Lý Phong Thủy , cũng cĩ thể, ơng lại bước sang nghiên cứu ngành Nhạc ? CD Nhớ gì Khơng em của nhạc sĩ Ngọc Loan và CD Cịn Dấu Yêu Xưa của nhạc sĩ Đổ Duy Thụy xuất hiện mới đây, mà đài BBC mấy lần phát sĩng, dù tìm mãi cũng vẫn khơng thấy tên ơng trên đề mục tác giả, thì chắc gì CD nào cĩ dính dáng đến tài nghệ đa diện của ơng ? Vậy mà cĩ người vẫn nghi là ơng cĩ liên hệ mật thiết với 1 trong 2 CD đĩ.

Hơn 500 năm trước, trong Bình Ngơ Đại Cáo , Nguyễn Trải viết:

....Dẫu cường nhược cĩ lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng cĩ......

Cường mạnh là Dương. Nhược yếu là Âm, là Nguyễn Trải nĩi đến Khí thế của nước nhà cĩ khi mạnh, khi yếu, cĩ khi cường, khi nhược. Nhưng trong Địa Lý Phong Thủy thì hồn tồn ngược khác là vì trên trời thì Dương động mà Aâm thì tĩnh – Dưới đất thì Dương tĩnh, mà Aâm thì lại động. Động thì cương cường, tỉnh thì nhu nhuyễn. Địa Lý Phong Thủy là chuyện đất đai, núi đồi, mồ mả, nhà cửa...và con người, là nĩi tồn chuyện ở dưới đất, nghĩa là tồn nĩi về Hình. Cho nên các nhà Phong Thủy nhìn thấy Hình mà cao vút, cương cường, nhọn hoắc thì luận là Aâm Khí, ngụ ý tiểu nhân. Hễ thấy Hình mà lõm thấp, nhu nhuyễn, bằng phẳng thì luận là Dương Khí, ngụ ý quân tử. Thế nhưng, tuy Hình và Khí cho dù cĩ khác biệt, mà lại khơng thể tách rời được nhau Là vì Hình luơn là để thể hiện Khí và Khí thì dựa vào tượng mà thành Hình, cho nên phải nhìn rõ Hình thấp cao, nhu nhuyễn hay cường kình thì mới phân biệt được Dương Khí hay Aâm Khí . Nhớ rõ, Địa Lý Phong Thủy là nĩi tồn chuyện dưới Đất cho nên sách vở người xưa để lại đều cho rằng Aâm thì Cường mà Dương thì Nhược . Tác giả sách Phong Thủy Địa Lý nào mà viết ngược Aâm thành Dương, viết Dương thành Âm là vì họ đang nĩi chuyện ở trên Trời. Mà trời với đất thì khác nhau xa, rất xa............

Chuyện Phong Thủy xưa nay là vậy, mời quý vị đọc kỷ lại sách Phong Thủy Địa Lý cĩ sẵn trên kệ sách, rồi thủng thẳng, suy tư, ngẫm nghĩ , tự mình viết cho lời kết.
Quảng Đức

Washington, DC

Washington, DC Qua cách nhìn của Khoa Phong Thủy


Quảng Đức.


Khai sáng một triều đại trước hết phải có sự cảm ứng của đất trời. Phát triển một địa thế trở nên một nơi đô hội hàng đầu thì phải biết đón lấy vượng khí của trời đất. Thành phố Washington, DC có được sự cảm ứng với trời đất thì phải do thiên cơ và quả nghiệp, thế nhưng Vượng khí của đất trời thì nhất đinh phải từ dòng Potomac. Có phải từ hướng Tây Bắc thành phố, dòng Potomac vạn dặm chảy dài như con Rồng đang chuyển. Ngỡ như bươn bả, cô đơn, không bến đỗ để hẹn hò tình tự. Vừa đến DC thì Potomac bỗng uốn mình đổi hướng rồi đột nhiên dừng lại Hồ Tidal Basin, trước khi giao hội với Anacostia. Dư khí của hai dòng là Washington Channel uốn cong như cái móc câu. Potomac như giang rộng vòng ôm cho đất DC được ấm. Trước khi chảy dài ra biển, hai lần quay lại vẫy tay chào thì quả thật Potomac hiển lộ ân tình quá rõ với DC. Câu vàng lượn trái ôm thân, tiền tài no đủ chẳng lo nợ nần. Bên trái của DC hội đủ câu vàng lại thêm cái thế Long tận Thủy giao, mà hễ thấy Thủy giao thì biết là Long phải dừng, thấy Thủy tụ thì biết Long đã tận. Long tận, thuỷ giao, Washington, DC trở nên thành phố hàng đầu chi phối toàn cầu về chính trị cũng như kinh tế là đúng ! Thế nhưng, Potomac cho dù vượt ngàn dặm tìm về, ân tình thắm thiết cho mấy cũng chưa một lần là biểu tượng của DC.

Washington Monument mới thật là biểu tượng. Từ Quốc hội nhìn thẳng sang Lincoln Memorial và từ Nhà trắng nhìn về Thomas Jefferson Memorial, Washington Monument sừng sững cao như cây bút. Mỗi sáng nắng lên, bóng bút ngã dài chấm vào nghiên mực của dòng Potomac đọng trên Reflecting Pool hoặc Rainbow Pool có lúc Tidal Basin. DC thành thế đất Bút chĩa lên mây con cháu đời sau khoa bảng. Và, cho dù được thêm cái thế Bút ngã sang ngang, nước cuốn vòng, thì DC cũng chỉ là đất phát Thế Khoa, bất quá cũng chỉ đến Công Hầu chứ làm gì được ngôi Vương trị vì thiên hạ? Thử nhìn lại bản đồ thành phố, có phải DC vuông vức hành Thổ? Tổ Sư Địa Lý Tả Ao đã dạy hễ thấy Thổ tinh kết huyệt Trung ương, ấy đất sinh Thánh sinh Vương là gì? Oâng Cao Trung quả thật đã có nhiều công đức thu thập cho xuất bản tập Địa Lý Tả Ao. Người đời sau khi gặp, mới có căn, có cứ để luận, để bàn! Rõ ràng DC trở thành đất cư ngụ của những bậc Đế Vương hoàn toàn nhờ vào Khí tụ của dòng Potomac. Biểu tượng Bút chĩa lên mây chỉ đứng hàng thứ yếu. Vì vậy, muốn đánh đúng huyệt kết ngôi Vương thì phải nhắm vào dòng Potomac, chứ không thể nhắm vào biểu tượng. Biết như thế để có thể giải thích tại sao đã hai mươi năm rồi, kể từ ngày đồ án của cô gái Mỹ gốc Trung Hoa Maya Ying Lin, sinh viên khoa kiến trúc trường Yale được thực hiện, hai bức tường bằng đá hoa cương tạo thành Vietnam Veterans Memorial cương cường chĩa thẳng vào Washington Monument, biểu tượng của thành phố đầu não của nước Mỹ, mà vẫn chưa gây ra được tác hại.

Gấn đây một số nhà toán học chứng minh được rằng trong thiên nhiên có hai năng lực ảnh hưởng rất quan trọng trên các mạch sinh cơ và hệ thần kinh của các loài sinh vật. Đó là năng lực xoáy vòng và năng lực đường thẳng hay gọi là hiệu ứng mũi nhọn. Năng lực xoáy vòng, Lý Thuyết Về Tiêu Bào của Thái Cổ Khoa Học Toàn Thư cho biết, năng lực này phát sinh bởi sự quay của quả đất và mặt trăng. Quả đất xoay khởi mào cho sự xoáy vòng của khí tượng, tạo thành những cơn bão lốc khủng khiếp. Nhưng phải đủ cả hai nguyên nhân là sự xoay của quả đất và của mặt trăng mới tạo được năng lực xoáy vòng của Thủy tượng. Mặc dù khối lượng không gian của các xoáy nước không lớn, nên không có tính phổ quát. Thế nhưng, năng lực này lại ảnh hưởng về lâu về dài, là vì hiệu ứng sinh cơ tác động trên con người xảy ra không phải tức thời như những cơn xoáy lóc. Thật phong thủy từ ngàn xưa đã thấy được năng lực ôm vòng của thủy lưu là một hình thức xoáy vòng của Thủy tượng. Năng lực này gần như vô hình, khó giải thích nhưng lại phát sinh ra hiệu ứng sinh cơ tác động vào các sinh vật nhất là con người. Cũng tựa như tự hàng ngàn năm trước, hai yếu tố Aâm Dương, liền, đứt, ngỡ là đặt để, trừu tượng, nhưng bây giờ lại là nền tảng mấu chốt của một nền văn minh cực thịnh của điện toán computer ? Từ trước đời nhà Châu, các nhà thông hiểu khoa học thái cổ đã tìm ra được những con số Mã mang tính sinh cơ số học. Xưa nay gọi là thước Lỗ Ban, được đồng hóa với tà thuật của các thầy bùa thầy pháp. Đơn vị là Chỉ và Phân theo hệ thống Bát phân đổi sang Thập phân thì mỗi Chỉ có chiều dài 0,408 mét. Ngày nay các nhà toán học tìm ra được tần số ngoại âm là 4,9. Số thành của 1 / 4,9 là 0,204 chính là đơn vị của thời gian. Con số đơn vị Chỉ 0,408 chính là trị số của hai lần đơn vị thời gian và cũng chính là gia tốc trọng lực ở mặt địa cầu. Hoặc Nam tả, nữ hữu? Thoạt nghe thì gọi là mê tín dị đoan. Thực ra ở Bắc bán cầu, Âm cực, chiều quay của quả đất là nghịch với chiều quay đồng hồ nghĩa là từ phải qua trái. Ở Nam bán cầu, Dương cực, chiều quay của quả đất thuận theo chiều kim đồng hồ, nghĩa là từ trái sang phải, thì không là nam tả nữ hữu là gì?

Khoa học đã chứng minh được con người và các sinh vật đều bị hỗn loạn ít nhiều về huyết dịch và bị rất nhiều biến chứng, ngược lại thì các bệnh tâm thần lại giảm nhẹ do những hiệu ứng sinh cơ của các năng lực xoáy vòng, đặc biệt là những cơn bão lốc xoáy. Thuật Phong Thủy thì cho rằng những vùng đất tốt là những vùng được bao bọc bởi các dòng sông. Cho dù các nhà nghiên cứu Phong Thủy không giải thích được một cách khoa học, thế nhưng, những kinh nghiệm thực tế rút tỉa từ đời này sang đời khác cho biết hễ những vùng đất được nước ôm vòng, đều là những vùng đất nhất định phải tốt, bởi lẽ vòng ôm của nước đã tạo thành năng lực xoáy vòng. Vùng đất nhỏ thì để chôn người, lớn thì xây dựng nhà cửa, lớn hơn nữa thì xây dựng quận hạt, thành phố và lớn nữa thì xây dựng quốc gia. Ngược lại, những nơi thế nước đi ào ạt, bạo liệt như tên bắn xông thẳng vào thì không thể gọi là tốt được Bởi thế, những dòng sông chảy xiết, xối xả, lênh láng thì không thể gọi là tốt đươc là vậy. Hiệu ứng sinh cơ tốt hay xấu thì rõ ràng nghịch với cường độ của năng lực vòng xoáy, nhưng đồng thời cũng cần phải căn cứ vào nguồn nước vươn xa hay gần, nước đến, nước đi đều uốn khúc êm đềm, quanh co ôm vòng, vương vấn như có vẻ dừng lại hay không mới biết mức độ xấu hay tốt của những vùng đất đó. Năng lực này càng cương cường bạo liệt bao nhiêu thì càng gây ra tai họa, biến chứng, hỗn loạn bấy nhiêu. Còn Hiệu ứng mũi nhọn hay năng lực đường thẳng thì khỏi phải nói. Hãy thử tượng tượng phía trước là một cái mũi nhọn ngày này sang tháng khác cứ chĩa hướng như dao đâm vào mặt, không lẽ không thấy khó chịu? Bức tường chữ V tạo thành Vietnam Veterans Memorial sắc như dao, đâm thẳng vào tâm Washington Monument. Năng lực đường thẳng lâu ngày sẽ gây ra tác hại bởi hiệu ứng của mũi nhọn thì biểu tượng của DC là Washington Monument ít nhiều cũng phải bị ảnh hưởng. Dù sao thì Washington Monument cũng chỉ là biểu tượng. Biểu tượng có bị xâm phạm thì ảnh hưởng cũng sẽ bị giới hạn. Địa hình của Washington, DC và năng lực xoáy vòng hay đúng hơn là nước chảy ôm vòng của dòng Potomac mới thật sự là mấu chốt cuộc đất sinh Thánh sinh Vương trị vì thiên hạ.

Thế nhưng thử hỏi có được bao nhiêu Vương Hầu Khanh Tướng của nước Mỹ lại sinh ra và lớn lên ngay trên đất của DC? Hay DC chỉ là nơi quy tụ của anh hùng hào kiệt bốn phương tụ về? Quả thật khó có câu trả lời đích xác, đành phải kỳ vọng vào những bậc cao nhân. Quảng Đức Washington DC Qua cách nhìn của Khoa Phong Thủy. Quảng Đức Hai trăm năm trước, Kỹ sư kiêm kiến trúc sư Pierre L’Enfant đã chọn những kiểu kiến trúc và trang trí theo mẫu mã Hy Lạp để sao cho DC trữ tình như Paris nước Pháp. Một trăm năm sau, Charles Follen McKim và nhóm của ông tái thiết lại để sao cho DC không những đẹp hơn Paris mà nhất định phải đẹp nhất thế giới. Mơ ước của những kẻ thiết kế đô thị đã biến thành sự thật. Thế nhưng, sự thật lại còn đẹp hơn những điều mà họ đã ước mơ. Hầu như tất cả nền văn minh rực rỡ của nhân loại đều được gắn liền tên tuổi của các dòng sông. Những nền văn minh đó cho dù là biểu tượng của nhiều triều đại đã một thời ngự trị huy hoàng cũng không thoát khỏi được quy luật thành, thịnh suy, hủy của tạo hóa vì phải còn tùy thuộc vào vận số của thiên cơ, nhưng các dòng sông thì vẫn mãi mãi tồn tại, vẫn mãi mãi hiện hữu. Như vậy, có phải thật những dòng sông đã đem lại rực rỡ cho các nền văn minh hay các nền văn minh đã đem lại tên tuổi cho các dòng sông? Quả khó có thể trả lời một cách nghiêm xác, vì một bên là biểu tượng của thực tại, một bên là hiện hữu của thực tại. Hai bên chỉ là quan hệ nhân quả và hoàn toàn bị giới hạn trong một thời đoạn nào đó mà thội. Thử nhìn lại vùng đất Kiến Khang, Nam Kinh ngày nọ, chung quanh tả hữu bao bọc bởi hai dòng sông lớn là sông Tần và sông Hoài. Dòng nước đang dồn chảy về phía Đông vừa qua khỏi Mặt Lăng bỗng quay vòng lại ôm lấy Kiến Khang tạo thành kiểu đất Đại Hồi Cục. Kiến Khang trở nên một nơi đô hội. Sáu triều đại Ngô, Tấn, Tống, Lê, Lương, Trần chia nhau trị vì thiên hạ. Các nhà nghiên cứu thuật Phong Thủy cho rằng sở dĩ Kiến Khang trở thành chốn Kinh Đô của các bậc Đế Vương bởi vì cái thế trọng yếu của nó được bao bọc bởi sông Tần, sông Hoài và dòng Thanh Khê tạo thành cái thế ngăn chận. Hồ Huyền Võ làm thế hiểm trở cho nên Kiến Khang có thể đón lấy được cái vượng khí của đất trời. Nhà Tùy cho đào Biện Hà thấy thế dòng nước đâm thẳng vào thành Nam Kinh của vùng đất Kiến Khang. Đào đến gần thành liền đổi thế dòng nước tránh sang chỗ khác cho ôm vòng quanh thành tạo thành cái thế Hữu Tình Thủy. Về sau Minh Thái Tổ đến Kim Lăng nghe theo lời Lưu Bá Ôn xây lại thành quách theo đúng kế hoạch của Lượng, quả nhiên Minh Thái Tổ tóm thâu lấy được thiên hạ. Từ hàng ngàn năm trước, con người đã ý thức được rằng các yếu tố thiên nhiên ảnh hưởng rất lớn đến họa phúc và có thể quyết định vận mạng của con người. Ngay từ thời kỳ hang động, con người đã biết phục tùng và biết phải thích ứng với thiên nhiên để có thể sinh tồn và phát triển. Các nhà Phong Thủy đã dựa vào Aâm Dương Ngũ Hành để giải thích, nhưng những kinh nghiệm thực tế từ đời này sang đời khác lưu truyền lại mới gây ảnh hưởng rộng khắp trong cuộc sống hiện thực, tác động vào tâm lý và hành động của con người và đó mới chính là tiền đồ căn bản của thuật Phong Thủy. Phong chính là gió. Thủy chính là nước. Rất giản đơn, không một ẩn bí, không nghĩa bóng nghĩa đen nào đằng sau cái nghĩa rất ư là đơn giản đó. Cho dù các nhà Phong Thủy có phân chia, phân biệt bản thể của Phong Thủy là thiên nhiên, bản thể của Thuật Phong Thủy là con người đi nữa, thì Phong cũng chính là Gió và Thủy cũng vẫn là Nước. Quách Phác đời Tấn là người đầu tiên giải thích phong hay gió là sự chuyển động của không khí.

Thủy chính là dòng nước. Không có nước thì gió đến mà khí tán, có nước thì khí dừng mà không có gió. Nhất thủy tụ, nhì tàng phong. Đất mà có nước thì khí tụ lại. Đất tránh được gió chỉ đứng hàng thứ, kém hơn. Thật ra, quy luật biến hóa tự nhiên của tạo hóa đã có sẵn trong sự vật rồi chứ không phải đợi con người vạch vẽ chế tác. Aâm Dương quả thực không bao giờ tách rời được nhau cho nên các yếu tố thiên nhiên gió, nước, núi đồi, đất đai cũng không thể tách rời được nhau . Gíó và nước là hai yếu tố của thiên nhiên vốn luôn lưu động. Đồi núi đất đai lại vốn luôn luôn tĩnh. Sự chuyển động không ngừng của hai yếu tố gió và nước đã làm thay đổi, ảnh hưởng đến hình thể vốn cố định của đồi núi đất đai. Gió có thể đem phấn hoa để cây cối đơm bông kết nụ, nhưng gió cũng có thể giận dữ trở thành những cơn bão gào thét tàn phá núi rừng. Nước cũng có thể phẫn nộ thành những cơn lũ san bằng làng xóm thành bình địa. Nước thì lại đi theo Núi, Gió thì hành tùy theo Nước. Núi còn đi thì nước còn chuyển và gió còn thổi. Núi đã dừng thì nước sẽ tụ và gió phải ngừng. Tự ngàn xưa con người đã biết dựa lưng vào núi để tránh gió là vì kinh nghiệm cho thấy hễ chỗ nào có gió thổi vào y rằng chỗ đó xấu, chỗ đó nhiều tai họa sẽ đến. Chỗ nào tốt, có sinh khí là những chỗ nước tụ hoặc những chỗ được núi ôm bọc trước sau để có thể che chắn được gió. Thế nhưng, hai thể gió và nước cũng lại phải gắn liền với nhau vì chỗ nào có gió mà không có nước thì chỗ đó lại bị cằn khô. Chỗ nào có nước mà gió đến thì ở đó sinh khí bị tiêu tán và nơi đó sẽ bị lạnh lẽo. Chỗ nào có nước tụ lại, gió bị tán đi thì chỗ đó có sinh khí, đất đai màu mỡ, ấm áp, cây cỏ tốt tươi. Nước và núi thì hữu hình nhưng gió thì lại vô hình cho nên phải nhìn vào thế đi hay dừng của nước và núi mới có thể biết được gió đi hay tán. Biết như thế để có thể giải thích được tại sao Thủ Đô Washington DC không những trở thành một nơi đô hội, mà lại còn là cái thế trọng yếu hàng đầu chi phối toàn cầu về kinh tế cũng như chính trị. Có phải tại giòng Potomac từ Tây Bắc đang dồn xuống bỗng dừng lại tạo thành thế Tụ Thủy tại hồ Tidal Basin trước khi giao hội với Anascostia từ Đông Bắc chảy xuống? Hai dòng Hợp Thủy dư khí đầy tràn tạo Washington Channel thành bầu sữa mẹ, rồi như ôm ấp Dc vào lòng trước khi đổi hướng sang Tây Nam tụ hội với Occoquan. Như được tăng thêm sức, vừa qua khỏi Stafford, Potomac hai lần uốn mình quay lại tạo thành thế Nghịch Thủy, như muốn vẫy tay chào DC trước khi chảy dài ra biển. Quay lại hai lần trìu mến vẫy tay chào, y như người mẹ thiết tha không nỡ rời con, thì quả Potomac hiễn lộ chân tình quá rõ với DC. Liên tục Rồng quay đầu về tổ, Potomac nước chảy ngược hướng nguồn, vấn vương thắm thiết triền miên, DC trở thành một thế đất cực kỳ độc đáo là phải.

Quảng Đức